TỔ SƯ THIỀN

Kiến tánh thành Phật


Thiền định của Phật - Tổ Sư Thiền

Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?


Tiểu sử Hòa thượng Thích Duy Lực

Hòa thượng - Thiền sư Thích Duy Lực đã có đóng góp to lớn trong việc hoằng truyền Tổ Sư Thiền tại Việt Nam. Sư xuất gia năm 1973. Thọ giới Tỳ Kheo tại Malaysia, tu học với Sư Hoằng Tu tại chùa Từ Ân và được sư phụ giao nhiệm vụ ra hoằng pháp từ ngày 2-4-1977. Từ đó, cho tới ngày viên tịch, Sư Duy Lực một mặt tự tu tập tham thiền, một mặt truyền bá pháp môn Tổ Sư Thiền cho các đạo hữu tại Việt Nam.

Năm 1989, Sư được đệ tử bảo lãnh sang Mỹ, từ đó mở rộng thêm việc hoằng truyền tại Mỹ, Canada. Một số chùa tại Úc, Đài Loan và Pháp cũng có mời thầy sang thuyết pháp.

Song, địa bàn hoằng pháp chủ yếu của Sư là tại Mỹ và Việt Nam, Sư đi đi, lại lại giữa hai nơi này, tổ chức thiền thất và giải đáp thắc mắc. Sư đã biên dịch nhiều kinh điển Phật giáo từ Hán ngữ ra Việt ngữ với sự giúp sức của một số đệ tử thân cận. Ngoài ra, Sư cũng có trứ tác một vài quyển sách nhằm hiển thị thêm nghĩa lý của kinh điển như Từ Điển Phật Học, Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21... Sư đã giải đáp hàng nghìn câu hỏi về Phật pháp của các Phật tử.

Sư họ LA húy DŨ hiệu DUY LỰC, tự GIÁC KHAI, sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy tỉnh Cần Thơ, Việt Nam.

Năm lên 7 tuổi, theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, Sư phải nghỉ học theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, lúc đó Sư được 16 tuổi (1938), trú tại tỉnh Cần Thơ.

Sư thường tranh thủ tự học trong lúc rỗi rãnh. Đến năm 26 tuổi (1948), Sư thi đậu bằng giáo viên Hoa văn. Sư từng cộng tác biên soạn cho tờ báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà-Keo Cao Miên (Nay là Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm.

Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, Sư được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường Cà mau, Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ để khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.

Trong tủ sách của Cư Sĩ Lâm có bộ Kinh Tục Tạng gồm 150 quyển, lúc đầu Sư định đọc hết toàn bộ, nhưng trải qua một năm chỉ xem được 7 quyển. Sau, Sư quyết định chỉ xem phần Thiền tông.

Lúc đó, Sư theo Pháp sư DIỆU DUYÊN (Ngài Diệu Duyên đã nhiều năm thân cận Lai Quả Thiền Sư và Hư Vân Thiền Sư. Ngài tịch vào năm 1976 tại Chùa Thảo Đường) tham học Tổ Sư Thiền.


THIỀN QUAN SÁCH TẤN

Đạo An Đại sư một mình ngồi trong tịnh thất ngót 12 năm, chuyên gạn lọc tâm tư, mới được ngộ đạo.
Tịnh Lâm Thiền sư, sau khi nghỉ diễn giảng để tu tập thiền định, thường bị bệnh ngủ làm mê loạn tâm. Ngài cố hết sức trấn tỉnh, nhưng cứ mỗi lần ngồi được một lúc, lại mơ màng hồi nào không hay. Gần chỗ Ngài ở có một cây đại thọ nghiêng mình ra giữa hố đá sâu thăm thẳm. Muốn đuổi con ma ngủ đi, Ngài leo lên cây ngồi thiền. Trải mấy ngày đêm, vì sợ hơ hỏng sẽ té nát thây, Ngài giữ tâm định tỉnh không dám chợp mắt. Nhờ thế, Ngài được đại ngộ.
Thông Đạt Thiền sư vào núi Thái Bạch tu, không có cơm gạo, đói thì ăn rau, nghỉ thì nằm dưới gốc cây. Ngài tọa thiền tư duy năm năm liền không dừng. Do sự cố gắng đó, nhào nặn tâm tư thành một khối; một hôm, bỗng nhiên khối ấy tan vỡ, Ngài đại ngộ.
Kim quang Chiếu Thiền sư xuất gia hồi 13 tuổi, 19 tuổi vào núi Hồng Dương, nương theo Ca Diếp Hòa thượng tu tập. Ngài chuyên cần ngót ba năm chưa bao giờ giải y, ngủ không đặt lưng xuống chiếu. Sau, Ngài đến núi Cô Xạ cũng chuyên cần như thế, bỗng nhiên khai ngộ.
Từ Minh, Cốc Tuyền, Lang Hương ba người kết bạn đến Phần Dương tham học. Bấy giờ ở Hà Đông lạnh tột độ, mọi người đều kinh sợ thối lui. Duy có Từ Minh quyết chí cầu đạo cam chịu lạnh ở lại đây, sớm chiều bền chí tinh tấn tu tập. Ban đêm tọa thiền ma ngủ đến, Minh lấy dùi chích vào mình khiến ma ngủ tan mất. Sau này, Từ Minh thay thế Tổ Phần Dương đạo phong phát triển, được hiệu là Sư tử Tây Hà.
Hoằng Trí Thiền sư đến tham học nơi Tổ Đơn Hà. Một hôm, nhơn cùng bạn đồng tu gạn hỏi nhau về công án, Thiền sư bỗng cười to lên. Tổ nghe, trách "một tiếng cười của ông đã mất bao nhiêu việc tốt. Nếu tạm thời tâm không định, đồng như người chết!" Hoằng Trí Thiền sư bái tạ, ghi lòng. Từ đấy về sau, dù ở trong thất tối, Ngài cũng không bao giờ quên.
Y Am Thiền sư tu hành rất tinh tấn. Mỗi khi trời ngã bóng về chiều, Ngài sa nước mắt, than: "Ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao!" Ở trong Tăng chúng, không bao giờ Ngài thốt ra một lời vô ích.
Hối Đường Tâm Thiền sư tự nói: Lúc mới vào đạo trong tâm thầm nghĩ việc tu rất dễ dàng. Đến khi gặp Tổ Huỳnh Long, nghĩ lại tâm niệm ngày trước rất mâu thuẫn với lý đạo. Tôi bèn nỗ lực tu hành, suốt 3 năm, nhiều lúc lạnh như cắt, nóng như thiêu vẫn không lay chuyển chí nguyện, mới được mọi việc hợp lý đạo. Hiện nay, dù tôi vung tay, tằng hắng đều là trúng ý Tổ Sư từ Ấn Độ truyền sang.
Thị Giả Triết khi ngủ lấy cây tròn làm gối, gối đầu. Ngủ vừa trở mình thì đầu rớt xuống chiếu, Ngài giựt mình thức dậy tu tập. Ngài lấy đó làm qui tắc nhất định hằng ngày trong việc tu hành. Có người bảo: "Dụng tâm như thế là thái quá". Ngài đáp: "Tôi duyên trong đạo Bát nhã rất mỏng manh, nếu không cố gắng như vậy, e bị vọng tập lôi cuốn".
Am chủ Toàn dụng công tu tập rất mãnh liệt, đến bỏ ăn quên ngủ. Một hôm, Ngài đứng dựa lan can khán câu "con chó không có Phật tánh", mưa đến bao giờ không hay, khi ướt cả áo mới biết.
Phật Đăng Tuần Thiền sư học đạo với Tổ Phật Giám. Tham hỏi mãi mà không khế ngộ, Ngài than: "Nếu đời này không tỏ ngộ, ta thề không xổ mền ra nằm nghỉ". Phát thệ rồi, ngót 49 ngày, Thiền sư chỉ đứng dựa cột chuyên tâm tham cứu, trạng như ngây dại, không khác nào người mất mẹ. Do đó, Ngài được đại ngộ.
Thiết Diện Bỉnh Thiền sư đi hành khước, ly hương chưa bao lâu, được thư nhà gửi đến. Ngài ném thư, nói: "Đây là việc làm rối loạn ý người".
Linh Nguyên Thanh Thiền sư ban đầu đến tham học với Tổ Huỳnh Long, nhiều lần thưa hỏi mà vẫn mờ mịt không biết manh mối. Đêm lại, Ngài đến trước bàn Phật phát thệ: "Con nguyện trọn đời phụng sự chánh pháp, cầu mong sớm được khai ngộ". Sau này, Ngài xem bản Ngữ lục của Tổ Huyền Sa, xem xong cuốn lại để dựa vách, đứng dậy đi kinh hành. Ngài vừa bước đi sút chiếc dép, cúi đầu xuống tìm, chợt đại ngộ.
Viên Ngộ Cần Thiền sư trở lại tham học với Tổ Đông Sơn Diễn. Ngài làm thị giả, ngày đêm chuyên cần gắng sức tham cứu. Thiền sư tự nói: "Sơn tăng ở trong Chúng không lúc nào tâm duyên cảnh khác, ngót mười năm mới được thấu đạt".
Mục Am Trung Thiền sư lúc đầu học tập Thiên Thai giáo, sau chuyên về Thiền tông. Ngài đến tham học với Tổ Long Môn Nhãn. Ở đây, Thiền sư không một phút giây quên phản tỉnh. Một hôm, Ngài đến chỗ quay nước, thấy trên ngạch đề "Pháp luân thường chuyển", chợt đại ngộ.
Khánh Thọ Hưởng Thiền sư đến tham học với Tổ Bảo Công, chuyên cần quên cả sớm chiều. Một hôm, có duyên sự đến Huy Dương, qua bến đò Triệu, nghi tình chưa tan, Thiền sư quên đò đã cập bến. Người đồng hành thấy thế, gọi: "Đò đến bến rồi, sao không lên?" Bỗng nhiên, Thiền sư buồn vui lẫn lộn. Trở về, Thiền sư đem việc ấy bạch lại Bảo Công. Công nói: "Đó là kẻ nằm cứng đờ, chưa phải ngộ". Lại dạy khán "Mặt trời lời Phật". Một đêm, cùng Chúng họp lên Thiền đường, tịnh tọa, nghe tiếng bảng cây, Thiền sư đại ngộ.
Cao Phong Diệu Thiền sư ở trong Chúng lưng không bén chiếu, thân miệng đều quên. Có khi, Ngài ngậm miệng bụm mũi đi như người trong nhà vệ sinh mới ra; hoặc khi, Ngài hả hoát miệng như cửa không gài. Sau đến Kinh Sơn, Ngài vừa vào đến nhà, liền đại ngộ.
Kiệt Phong Ngu Thiền sư trước tiên học đạo với Tổ Thạch Môn. Sư vâng giữ pháp ngữ của Tổ, ngày đêm mải miết tham cứu. Về sau, Sư đến tham vấn Tổ Chỉ Nham, tham câu "không phải tâm, không phải vật, không phải Phật". Lúc ấy lòng nghi càng tăng, Sư bỏ hết muôn việc, quên cả ăn, ngủ. Hết mai lại chiều, Sư ngồi sững như tượng gỗ.
Thừa tướng Di Thích Sở Tài đến tham học với Vạn Tùng Lão nhơn. Ông bỏ hết việc nhà bế cửa thất không tiếp khách. Dù những khi giá lạnh, nóng bức, không ngày nào ông dừng nghỉ tham cứu. Đêm đến, ông thắp đèn sáng kế tiếp mặt trời để bỏ ngủ. Ban ngày thì ông quên ăn. Như vậy, suốt ba năm, ông mới được ấn chứng.
Trung phong Bổn Thiền sư theo hầu Ngài Tử Quan. Ngày đêm chuyên cần tu tập, mỗi khi buồn ngủ lắm, Sư đụng đầu vào cột nhà cho ma ngủ tan biến. Một hôm, Sư tụng kinh Kim cang đến câu "Hà đảm Như Lai sứ" (gánh vác việc Như Lai) bỗng nhiên thấu đạt. Sư tự cho rằng chỗ chứng chưa cùng tột, càng cố gắng tinh tấn, thưa hỏi không dám bê trễ. Một lúc nọ, Sư nhìn dòng nước chảy, chợt đại ngộ.
Độc Phong Thiện Thiền sư bế quan ở Dục Khê. Trong thất, Ngài không kê giường, chỉ để một cái ghế ngồi. Ngài tự nguyện: "Nếu chẳng tỏ ngộ, ta không rời khỏi chỗ này". Một đêm, hành đạo quá mỏi mệt, Ngài vừa lại ghế ngồi, bất giác ngủ quên đến canh ba. Tự trách mình, Ngài chỉ đi đứng chớ không ngồi nữa. Nhưng một hôm, Ngài lại dựa vách ngủ quên. Sau khi thức giấc, rất hối hận, Thiền sư lập thệ: "không nương tựa vách". Chừng ấy, thân thể nặng nề mỏi mệt, mí mắt chỉ muốn sụp xuống. Ngài khóc lóc lễ Phật sám hối, tìm đủ cách để đánh đuổi ma ngủ đi. Nhờ thế, công phu của Ngài càng lúc càng tăng tiến thêm. Một đêm, nghe tiếng chuông, Ngài bỗng cảm thấy thân tâm vắng lặng không còn chỗ nương tựa.
Bích Phong Kim Thiền sư tham học với Ngài Phổ Vân Hải. Từ đó về sau, Ngài càng thiết tha công phu, đến lưng không bén chiếu, một lần tọa thiền đến bảy ngày mới xuất. Một hôm, nghe tiếng bảng cây, Ngài đại ngộ.
Vô Tế Thiền sư lúc mới thực hành công phu không đọc đến bốn quyển Kinh Lăng Già, và những bản Ngữ lục cũng không xem. Ngài cam chịu mù tối chuyên ròng thực hành độn công phu. Thế mà sau này, Ngài vẫn được đại ngộ

KINH LĂNG GIÀ

📔 Trong Kinh Lăng Già, "5 pháp, 3 tự tánh, 8 thức, 2 vô ngã" là những khái niệm cốt lõi dùng để giải thích cấu trúc của thực tại và cách tâm thức chúng ta vận hành.

Đức Phật dùng sơ đồ này để giúp hành giả nhận diện đâu là ảo vọng, đâu là chân thật để đạt đến cảnh giới "Tự chứng Thánh trí".

🔖 Dưới đây là ý nghĩa tóm lược của từng phần:

① 5 PHÁP 🕯 Quá trình từ mê đến ngộ

5 pháp mô tả lộ trình từ việc bám chấp vào thế giới bên ngoài cho đến khi đạt được chân lý.

1.1 - Danh: Tên gọi, khái niệm mà chúng ta dùng để gọi sự vật (ví dụ: "cái bàn", "hoa hồng").

1.2 - Tướng: Hình dáng, màu sắc, đặc điểm của sự vật mà giác quan cảm nhận được.

1.3 - Phân Biệt: Sự suy lường, phán đoán của tâm thức dựa trên danh và tướng để nảy sinh yêu, ghét, đúng, sai.

1.4 - Chánh Trí: Cái nhìn đúng đắn, không bị kẹt vào danh tướng và sự phân biệt; nhận ra vạn pháp đều do tâm hiện.

1.5 - Như Như: Thực tại tối hậu khi không còn bóng dáng của vọng tưởng, là bản thể chân thật của vạn pháp.

② 3 TỰ TÁNH 💎 Cách ta nhìn nhận thực tại

2.1 - Biến kế sở chấp tánh: Bản chất do ta tự tưởng tượng ra và gán ghép cho sự vật (giống như nhìn sợi dây thừng mà tưởng là con rắn).

2.2 - Y tha khởi tánh: Bản chất các pháp phát sinh do duyên mượn nhau mà thành, không có thực thể độc lập (sợi dây thừng do các sợi gai bện lại).

2.3 - Viên thành thật tánh: Bản chất chân thật, tuyệt đối của vạn pháp khi lìa bỏ sự sai lầm của biến kế (nhận ra bản chất thực sự của sợi dây).

③ 8 THỨC ⛓️ Cấu trúc hệ thống tâm lý

Kinh Lăng Già nhấn mạnh việc chuyển hóa 8 thức này:

3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5 - 5 thức đầu: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân (thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm).

3.6 - Thức thứ VI (Ý thức): Sự suy nghĩ, phân biệt các đối tượng giác quan.

3.7 - Thức thứ VII (Mạt-na thức): Thức chấp ngã, luôn bám lấy cái "tôi", là nguồn gốc của ích kỷ và phiền não.

3.8 - Thức thứ VIII (A-lại-da thức/Tàng thức): Kho lưu trữ mọi hạt giống nghiệp. Khi được thanh tịnh, nó chính là Như Lai Tạng.

④ 2 VÔ NGÃ ⚪️ Đỉnh cao của sự buông bỏ

4.1 - Nhân vô ngã: ⚡️ Nhận ra không có một cái "tôi" hay "linh hồn" vĩnh cửu, độc lập trong con người này.

4.2 - Pháp vô ngã: ⚡️ Nhận ra các sự vật, hiện tượng bên ngoài cũng không có tự tính độc lập, tất cả chỉ là sự biểu hiện của tâm thức.

⭐️ MỐI LIÊN HỆ TỔNG QUÁT

Kinh Lăng Già tóm gọn rằng:

Danh, TướngPhân biệt thuộc về Biến kế sở chấpY tha khởi.

Khi hành giả dùng Chánh trí để soi rọi, dẹp bỏ sự Phân biệtChấp ngã của 8 Thức, họ sẽ thâm nhập vào Như Như, đó chính là Viên thành thật tánh.


📲 Cài Tổ Sư Thiền ra màn hình điện thoại

Mở rất nhanh - Dùng như app - Không cần cài đặt

android icon ANDROID

  1. Bấm dấu (3 chấm đứng)
  2. Chọn Thêm vào Màn hình chính (Add to Homepage)
  3. Bấm Thêm (Add)

ios icon iOS

  1. Bấm nút Chia sẻ (Share) 📤
  2. Chọn Thêm vào Màn hình chính (Add to Homepage)
  3. Bấm Thêm (Add)

⚠️ Phải mở bằng trình duyệt Safari safari icon

10 Chú Ý

Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?

Người tham Tổ Sư Thiền phải chú ý những điều sau đây

PHÁ NGÃ CHẤP

Theo Phật pháp, bất cứ tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, cho đến tối thượng thừa, chẳng có thừa nào là không phá ngã chấp cả. / Nếu không phá ngã chấp thì không được giải thoát cái khổ sanh tử, không được ra khỏi sanh tử luân hồi. / Vậy tham thiền phải phá ngã chấp bằng cách nào? Là bằng chín chữ: "Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ" đó là cái căn bản để thực hành phá ngã chấp. / Nếu có sở đắc là còn chấp ngã, có sở cầu là còn chấp ngã, có sở sợ là còn chấp ngã.

PHÂN BIỆT HỔ NGHI VÀ CHÁNH NGHI

Tham thiền là chánh nghi. Chánh nghi là chỉ cho tâm nghi, chứ không cho tâm đi tìm hiểu so sánh, để nuôi cái nghi tình cho thật mạnh. / Khi nghi tình mạnh tới cùng tột, thình lình bùng nổ gọi là kiến tánh. Kiến tánh là giác ngộ, là biết được chính mình mới làm chủ được mình. / Tự làm chủ được mới tự do tự tại được. Tự do tự tại là vĩnh viễn giải thoát tất cả khổ, cho nên gọi là kiến tánh thành Phật. / Còn hồ nghi là lấy tâm đi tìm hiểu, hoặc giải thích câu thoại đầu cho ra đáp án, đó không phải là tham thiền, hồ nghi chỉ có thể được giải ngộ, chứ không được chứng ngộ, cũng như nhà khoa học Newton thấy trái táo từ trên cây rơi xuống mà sanh ra nghi vấn: Tại sao trái táo rớt xuống đất mà không bay lên trời? Từ đó, ông lấy tâm đi nghiên cứu tìm hiểu, cuối cùng ngộ được: Lực hấp dẫn vạn vật. Đó là hồ nghi. Hồ nghi chỉ có thể phát minh được đồ dùng của thế gian, chỉ có giá trị đối với thế gian vì không ngộ được chính mình nên không làm chủ mình được, không đạt đến tự do tự tại được.

CHẲNG CHO KHỞI BIỆT NIỆM

Ngoài nghi tình ra không cho khởi niệm khác, không cho đè nén vọng tưởng, không cho buông bỏ vọng tưởng, cũng không cho trừ vọng tưởng, vọng tưởng khởi lên bao nhiêu cũng mặc kệ không cần biết tới có vọng tưởng hay không có vọng tưởng, vì nghi tình chính là cây chổi automatic, không cần sự tác ý, tự nó quét sạch tất cả. Vó vọng tưởng cũng quét, không có vọng tưởng nó cũng quét. Nếu nghi tình được miên mật thì tất nhiên vọng tưởng không có kẽ hở mà nổi lên, hễ có khởi lên một niệm khác tức là đã có kẽ hở rồi.

NHÂN QUẢ, NGHI NGỘ

Phải biết nghi là nhân, ngộ là quả. Không có nhân thì không có quả cho nên bất nghi bất ngộ, nhân nhỏ, quả nhỏ, cho nên tiểu nghi, tiểu ngộ, nhân lớn, quả lớn, cho nên đại nghi, đại ngộ. Nếu tham thiền lúc nghi tình nặng, ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, đó là đại nghi. / Khi đó, thì nhức nhiều chừng nào thì tốt chừng nấy, chớ nên sợ, đó là tình hình tốt bởi vì đại nghi sẽ được đại ngộ. Nhưng lúc ngồi mà có tình trạng như vậy thì không được. Không được thì phải làm sao? Phải mau mau đứng dậy kiếm công việc làm nhưng vẫn phải tiếp tục tham cứu. / Nếu tham tới cảm thấy thần kinh căng thẳng quá chịu không nổi thì câu thoại đầu phải đề chậm lại từng chữ một, chậm thật chậm, mỗi chữ kéo dài độ mười giây như vậy sự căng thẳng thần kinh sẽ dần dần được giải tỏa.

CHẲNG PHÂN BIỆT TƯ CÁCH

Tham Tổ Sư Thiền không kể sơ tham, lão tham, thông minh, dốt nát, ngu si, người già hay trẻ con. Trong Kinh Pháp Hoa: Long Nữ 8 tuổi được thành Phật. / Truyền Đăng Lục (lịch sử thiền tông Trung Hoa) có một cô họ Trịnh 13 tuổi kiến tánh, một cô họ Tô 15 tuổi được kiến tánh. / Và nhiều Tổ ngu si dốt nát cũng tham thiền được kiến tánh. Người tham thiền chỉ cần thống thiết vì việc sanh tử, dũng mãnh tham cứu thì bất cứ người nào cũng có thể kiến tánh thành Phật, không nên tự khinh khả năng thành Phật của mình.

THÂM TIN TỰ TÂM

Tham thiền phải tin tự tâm, nếu chỉ tin pháp môn tham thiền mà không tin tự tâm thì dù tinh tiến đến mức nào cũng không được kiến tánh, nên Ngài Bác Sơn nói: tin có chánh, tà; tin "tự tâm tức Phật" là chánh, ngoài tâm chấp có pháp gọi là tà; "tức Phật" là cần phải tham cứu cho sáng tỏ tự tâm và phải đích thân dẫm đến tới chỗ chẳng nghi mới gọi là chánh tín. / Còn như mập mờ, lầm lạc, đoán mò chỉ nói "tức tâm tức Phật" mà thật không muốn tham cứu rõ tự tâm thì gọi là tà tín."

PHẢI NGỘ TỰ TÁNH

"Hàn lu trục khối, sư tử giảo nhân" (Chó Hàn đuổi cục xương, sư tử thì cắn người). Đây là hai câu thí dụ của Tổ Sư, nghĩa là: Một người quăng cục xương, con chó đuổi theo cục xương mà cắn còn con sư tử thì không ngó tới cục xương cứ cắn ngay người đó. / Người đó dụ cho tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của Tổ, của Phật. Nếu hướng vào lời nói của Tổ, của Phật mà ngộ là con chó, hướng vào tự tánh mà ngộ là con sư tử. / Cổ Đức nói: "Tử ư cú hạ" (chết trong ngữ cú), hướng cử khởi xứ thừa đương (hướng vào chỗ lời nói mà nhận lấy)", nghĩa là lời nói của Tổ vừa nói ra, vừa nghe hiểu liền cho đó là ngộ, nhưng sự hiểu ngộ đó còn nằm trong ý thức phân biệt, mặc dù đúng lý thế gian rất lô-gích, nhưng vì chẳng biết cần phải lìa ý thức mới chứng ngộ được. Cho nên bị Tổ chê là Hàn lu (loại chó mực rất thông minh ở nước Hàn).

KHÔNG LỌT VÔ KÝ

Tham thiền nên tránh lọt vào "Vô ký không". Pháp môn khác chỉ cầu được dứt niệm, nhưng tham thiền trái lại không cho dứt niệm tức là nghi tình phải luôn luôn tiếp tục, không cho gián đoạn. / Nếu không có nghi tình cũng không có vọng tưởng thì lọt vào Vô ký không là một thứ thiền bệnh, Tổ Sư gọi là "ngâm nước chết". Mặc dù lúc ấy cảm thấy được thanh thanh tịnh tịnh, trong mình cảm thấy nhẹ nhàng nhưng chấp lấy cái đó thì vĩnh viễn không được kiến tánh, chẳng thà có nghi tình, có vọng tưởng còn tốt hơn. Vậy tham thiền nếu chưa đến thoại đầu chớ nên bỏ câu thoại. Có người bỏ câu thoại vẫn còn nghi tình cho là tốt, thực thì không đúng vì có thể bị gián đoạn một khoảng thời gian lâu mà tự mình không hay, lại cũng dễ bị lọt vào Vô ký không nữa.

HÀNH KHỞI GIẢI TUYỆT

Theo giáo môn thông thường, sự tu hành phải trải qua bốn giai đoạn là: tín, giải, hành, chứng. Ban đầu do tin rồi đi tìm hiểu (giải), theo sự hiểu mà thực hành, vừa thực hành vừa tìm hiểu thêm, vừa hiểu thêm vừa thực hành thêm từng bậc tiến lên chứng từ thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa cho đến đẳng giác, diệu giác. / Đó là cách tu thông thường. Còn Tổ Sư thiền thì không phải vậy. Trước tiên cũng phải có tin, có hiểu, nhưng khi bắt đầu thực hành thì không được tìm hiểu nữa. Thiền môn gọi là "Hành khởi giải tuyệt" tức là đã bắt đầu tham thiền rồi thì sự tìm hiểu kiến giải phải chấm dứt. Cho nên tham thiền không cho hiểu thiền, hiểu đạo. / Tại sao vậy? Vì đang tham thiền là đã có thiền, có đạo rồi. Nếu đi tìm hiểu thiền hiểu đạo nữa thì cũng như mình đã có một cái đầu rồi còn sinh thêm một cái đầu thứ hai nữa. / Tổ Sư gọi: "Đầu thượng an đầu" (trên đầu thêm đầu) thì cái đầu thứ hai, không những không có ích cho cái đầu bổn lai, lại còn làm chướng ngại khổ sở cho cái đầu bổn lai nên phải mời Bác sĩ cắt bỏ mới được khôi phục sức khỏe lại. / Vậy hiểu thiền hiểu đạo còn không cho huống là đi tìm hiểu cái khác nữa. Phải biết rằng ham tìm hiểu rất chướng ngại cho sự chứng ngộ. Thế nên "Hành khởi giải tuyệt" là vậy.

CHÚ TRỌNG THỰC HÀNH

Tổ Sư Thiền chỉ chú trọng thực hành không cần lý luận, nhưng khi đang thực hành sẽ tùy theo căn cơ trình độ khác biệt, tình chấp nặng nhẹ, kiến giải cao thấp và sự ham thích bất đồng của mỗi người mà sinh ra muôn ngàn lối tẻ sai biệt. / Cho nên quyển sách này chỉ được nêu ra những điều thực hành chung, còn nhiều chi tiết vi tế không thể kể hết ở trong này, phải tùy bệnh mà cho thuốc, vì thế mặc dù cách tham thoại đầu rất dễ nhưng cũng phải có người lão tham hướng dẫn mới được. / Nếu tự làm tài khôn mà không đi đúng với tôn chỉ chính xác tủa Tổ Sư Thiền thì sẽ có thể trở thành phỉ báng Phật pháp, tạo tội địa ngục mà tự mình không biết, xin người học thiền để ý cho.

HAI Tâm Niệm

Muốn đạt đến kiến tánh giải thoát, hành giả tham tổ sư thiền cần phải thực hành đúng theo cơ bản như sau

TIN TỰ TÂM

Thế nào là TIN TỰ TÂM? Phải tin tự tâm mình đồng với Chư Phật chẳng hai chẳng khác, tức là thần thông trí huệ của bản tâm mình không kém hơn Chư Phật một tí nào cả.

Vì bản thể và diệu dụng của bản tâm mình cũng như Chư Phật, cùng khắp không gian và thời gian, nên nói tự tánh bình đẳng bất nhị.

Nếu kém Phật một tí thì Phật cao hơn chúng sanh, là bất bình đẳng, có cao có thấp là nhị.

Nếu đã tin tự tâm sẳn đầy đủ tất cả năng lực thần thông trí huệ, bản thể và diệu dụng cùng khắp không gian và thời gian, như Phật nói "Ngoài tâm chẳng có pháp" thì đương nhiên thực hành được 9 chữ "VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ".

Vì đắc là đắc ngoài tâm, cầu là cầu ngoài tâm, bản tâm cùng khắp không gian và thời gian, ngoài không gian chẳng có không gian, ngoài thời gian chẳng có thời gian, vậy thì ngoài còn chẳng có, còn có gì để cho mình đắc để cho mình cầu!

Không đắc không cầu thì không còn gì để sợ, như thế không phá ngã chấp cũng tự phá ngã chấp rồi, vì VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ là dùng để phá ngã chấp, phá hết ngã chấp thì được giải thoát cái khổ sanh tử luân hồi.

Lại nếu không tin tự tâm, chỉ tin pháp môn Tổ Sư Thiền thì dù siêng năng tu tập cách mấy cũng không thể đạt đến kiến tánh.

Tại sao? Vì không tin tâm mình thì làm sao tự hiện được bản tâm mình! Tự hiện bản tâm tức là kiến tánh, nên nói tin tự tâm là cơ bản của chánh pháp.

KHỞI NGHI TÌNH

Thế nào là NGHI TÌNH? Tức là đề câu thoại đầu hỏi thầm trong bụng, cảm thấy không biết, thiền môn gọi là Nghi Tình. Bất cứ đi đứng nằm ngồi, làm việc bằng tay chân hay trí óc, cho đến lúc ăn cơm, đi cầu, nói chuyện, ngủ mê đều phải có nghi tình.

Có nghi tình mới được gọi là tham thiền, nói một cách khác tức là dùng cái tâm không biết (Nghi Tình) của bộ não để chấm dứt tất cả biết của bộ não.

Dù nói chấm dứt, kỳ thật khỏi cần tác ý chấm dứt, có nghi tình thì đương nhiên tự nó chấm dứt, vì tất cả biết của bộ não đều là tướng bệnh, cũng là cái biết của người mù. Ví như người mù không thấy mặt trời, hỏi người mắt sáng, người mắt sáng nói "mặt trời có tròn có nóng", người mắt sáng diễn tả mặt trời thì đúng, nhưng người mù chấp tròn với nóng cho là mặt trời thì không đúng rồi.

Muốn giữ nghi tình trước tiên phải chấm dứt những tìm hiểu biết và ghi nhớ biết, sau chấm dứt luôn cái tùy duyên biết (tùy duyên biết là khỏi cần tìm hiểu cũng biết, như đi đứng nằm ngồi, mặc áo ăn cơm v.v...).

Nên Ngài Lai Quả nói "Lúc công phu đến thoại đầu thì đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết ngồi".

Công phu đến thoại đầu thì câu thoại tự mất, tất cả biết của bộ não đều hết, khi ấy tham thiền không biết tham thiền, ăn cơm không biết ăn cơm, luôn cả cái không biết cũng không biết luôn.

Công phu đến đây là gần kiến tánh, người đời coi mình như người khờ ngốc, nhưng sự thật thì sẽ phát đại trí huệ, cuối cùng cái nghi tình bùng nổ, cái tâm không biết của bộ não cũng tan rã.

Bấy giờ cái biết và không biết của bộ não đều sạch, tướng bệnh (tác dụng của bộ não) đã hết, trong sát na đó tướng mạnh (cái biết của bản thể Phật tánh) hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật. Tổ nói "Tri chẳng có hai người, pháp chẳng có hai thứ".

Tại sao tri chẳng có hai người? Vì cái tri của bản thể gọi là Chánh Biến Tri, cùng khắp không gian và thời gian, chỉ có một cái tri, nếu có thêm cái tri của bộ não (không cùng khắp) thì thành hai cái tri, tức là hai người.

Sao nói pháp chẳng có hai thứ? Vì tất cả pháp đều do tâm tạo, bản thể của tâm đã cùng khắp không gian và thời gian thì pháp của tâm tạo ra cũng phải cùng khắp như bản tâm, nên nói pháp chẳng hai thứ.

Nếu có pháp nào do bộ não chấp nhận là pháp thật thì pháp thứ hai này cũng là tướng bệnh.

Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?