⏯️ (tiếp theo)
O₅ - Nói rõ sanh vốn tự vô sanh để phá kiến chấp sanh nhân
💥 GIẢI
✅ Đây là nghi Phật tự ngữ tương vi.
Đại Huệ nhân trước đó nghe Phật nói tất cả pháp vô sanh, lại nói như huyễn. Bởi tất cả pháp đã vốn vô sanh, lại nói như huyễn, như huyễn thì có sanh.
Mới nói vô sanh lại nói sanh, há chẳng phải là lời nói của chính mình trước sau trái nhau.
💥 GIẢI
Đây nói rõ sanh vốn vô sanh, để phá kiến chấp nhân sanh.
Phật nói ta chẳng có lỗi trước sau trái nhau. Vì sao? Ta biết rõ tất cả pháp sanh vốn vô sanh, vì biết các pháp chỉ là sự hiển hiện của tự tâm. Hoặc có hoặc không, thấy chỗ vô tánh duyên sanh của chúng, vì sanh vốn vô sanh nên nói như huyễn.
Chẳng phải ta có lỗi trước sau trái nhau. Ta nói vô sanh cũng chẳng nói suông, mà để phá ngoại đạo vọng lập nhân sanh. Vì vậy ta nói tất cả pháp vốn tự vô sanh.
Ngoại đạo chấp nhân sanh ấy vì chúng là bọn ngu si, cùng dấy lên ác kiến cho rằng Có từ “nhân có” sanh, Không từ “nhân không” sanh. Nên văn kinh nói Muốn khiến có, không có sanh. Không biết các pháp từ nơi vọng tưởng phân biệt chấp trước làm duyên sanh khởi. Thế nên ta nói các pháp chẳng phải do “có, không” sanh, do duyên sanh như huyễn nên nói vô sanh, chẳng phải một bề tuyệt nhiên chẳng sanh.
💥 GIẢI
✅ Đây là phòng ngừa nạn vấn.
Sợ người ngu nghe nói các pháp chẳng do “có, không” sanh, bèn nghi rằng: Bởi vì Thế Tôn đã nói kiến, ái, phiền não, các pháp thiện ác, những việc nhân quả luân hồi trong ba cõi, là nói chư pháp thật có tánh, vì sao lại nói là không?
Nên ở đây giải thích điều này. Đường dịch: “Nói các pháp đó, là vì khiến hàng đệ tử biết rằng, y cứ vào các nghiệp nhiếp thọ sanh tử, vì để ngăn cái kiến chấp đoạn diệt không trơn của họ”.
Nghĩa là kiến, ái, tập khí các phiền não là nhân của sanh tử, chỗ thọ sanh trong ba cõi là quả của sanh tử. Cho nên nói Các thứ nghiệp chỗ thọ sanh.
Tịnh Danh nói: “Không làm, không gây tạo, không người thọ, mà nghiệp thiện ác cũng chẳng mất”. Đó là không muốn cho chúng sanh rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bác không nhân quả vậy. Song tuy nói như vậy, cũng chỉ dùng danh từ, câu nói, đoạn văn làm thể, cũng chẳng phải pháp thật, cho nên nói Dùng tánh âm thanh mà nói.
💥 GIẢI
Đây nói về Như Lai thuyết pháp, chỉ là tùy theo ý niệm và ngôn ngữ của chúng sanh.
Pháp vốn vô sanh, không cho có nói năng. Song Phật nói như huyễn, nói vô sanh đó, chỉ vì phá tình chấp trước, như ngược chốt tháo chốt nên mới như thế.
Do người ngu không biết các pháp chỉ tự tâm hiện, vọng chấp các thứ thật có tự tánh, nên ta nói như huyễn để phá cái chấp kia. Lại vì ngoại đạo không thấu rõ năm uẩn các pháp duyên sanh vô tánh, vọng chấp tác giả làm nhân sanh, ta vì phá hoại tình chấp “có nhân sanh khởi” của họ nên nói năm uẩn các pháp duyên sanh như huyễn, không thật như mộng, khiến họ không vọng chấp về tự tướng của thân tâm mình và người, xả bỏ tà chấp.
Lại vì chúng sanh đối với chỗ như thật vọng thấy sanh diệt, làm luận bất chánh cho nên ta nói vô sanh. Nếu quả thật có người có thể thấy một cách như thật tất cả pháp siêu tự tâm hiện lượng, thì lúc ấy ta đối với hai tiếng “vô sanh” cũng không nói. Chẳng phải ta nói như huyễn vô sanh có lỗi trái nhau.
💥 GIẢI
Nói các pháp vô sanh ấy là vô tác, vì vô tác nên vô tánh. Song nói có nghiệp tánh đó là vì ngăn đoạn kiến nhiếp thọ sanh tử.
Nếu hay quán sát các pháp như huyễn thì nơi tất cả pháp tướng không khởi phân biệt. Không phân biệt thời tâm cảnh tịch diệt, tịch diệt ắt chẳng sanh, thế là như huyễn vô sanh vốn không hai vậy.
-
Trên phá sanh kiến.
-
Sau đây phá tập khí danh ngôn.
O₆ - Nói rõ ngôn thuyết vô tánh để phá tập khí danh ngôn
💥 GIẢI
Đây nói về ngôn thuyết vô tánh để phá tập khí danh ngôn.
Do ở trước từng nói rằng: “Nên y nơi nghĩa chớ chấp trước ngôn thuyết”. Lại nói: “Ngôn thuyết đó là tạo tác”. Lại nói “dùng tánh âm thanh để nói”.
Sợ người nghe không thấu hiểu ngôn thuyết tánh không, không thể lìa ngôn thuyết nhận nghĩa, nên ở đây đặc biệt nêu ra danh từ, câu, nét chữ khiến cho khéo quán sát theo đó nhận được nghĩa.
Bởi vì ngôn thuyết dùng danh từ, câu văn, nét chữ làm thể, đã do ba pháp hợp thành đủ biết vốn không tự tánh. Như Lai chỉ mượn nó để nói pháp tiêu biểu, chẳng phải pháp thật. Thế nên dạy quán sát để có thể lìa bỏ, lìa tánh ngôn thuyết ắt tự nhận được nghĩa vậy.
💥 GIẢI
Căn cứ vào sự vật đặt tên, tên tức là bản thân của vật, nên gọi là danh thân. Như căn cứ vào bình, bồn đặt tên bình, bồn.
Nghĩa là một tên, hai tên, nhiều tên, có thể biểu thị tự tánh, tên khác mà nghĩa có một nên gọi là danh thân. Thân nghĩa là nhiều pháp nhóm họp.
💥 GIẢI
Câu có thể hiển bày xác định rốt ráo. Vả như bình bồn, chỉ có danh từ chưa hiển bày nghĩa, vì chẳng biết bình bồn là thế nào. Nếu nói rằng bình bồn sắt, đồng, thiếc, cây… hoặc nói bình bồn đựng nước, dầu, gạo, muối…
Nghĩa mỗi câu đều khác. Như thế là hiển lộ rõ nghĩa quyết định trọn vẹn không lầm. Một câu, hai câu, nhiều câu hay biểu thị sai biệt. Nhân danh từ thành câu, cho nên gọi là cú thân.
Hình thân là nêu bày danh từ và câu, gọi là hình thân (mẫu tự).
Hình tức là văn thân, là nét chữ. Y cứ vào nét chữ mà thành danh từ, câu. Nghĩa là một chữ, hai chữ, nhiều chữ làm chỗ y cứ cho danh và cú nên gọi là văn thân. Thuyết văn nói: “Y cứ vào loại để tượng hình là nét chữ, hình và tiếng tương xứng là chữ viết”.
💥 GIẢI
Chữ có 4 thanh tám vận: Thanh, trầm, nặng, nhẹ, lên, xuống, cao, thấp. Ngụy dịch: Thanh có dài ngắn, âm vận có cao thấp.
💥 GIẢI
Cú thân là dấu vết đường, nghĩa là theo dấu vết mà tìm thấy voi, ngựa. Để dụ cho nhân lời nói mà được nghĩa, được nghĩa rồi thì quên lời, như được voi ngựa thì xóa dấu vết.
💥 GIẢI
Danh tự, như là bốn uẩn không sắc chất, căn cứ vào tên mà nói. Tướng danh tự, là vì có thể hiểu được qua danh từ nên nói bốn uẩn đều có tự tướng.
Đây đưa ra bốn uẩn y cứ trên danh từ mà nói, chỉ có danh từ, vốn không pháp thật, không thể so sánh với sắc uẩn còn có chất giả, vì cốt yếu hiển bày danh tự tánh không.
Nói “tự tướng”, chỉ cho bốn uẩn này mỗi mỗi tự không giống nhau, cũng chẳng thật có tướng trạng thấy được. Nếu biết bốn uẩn chỉ có danh tự, thì các pháp được nói ra có thể theo đó mà biết. Nên kinh Mật Nghiêm nói: “Các pháp ở thế gian, tất cả chỉ là danh”.
Vì vậy ta nói vô sanh, như huyễn, cho đến Bồ-đề, Niết-bàn, tự giác thánh trí… đều là tùy theo để phá tình vọng chấp của chúng sanh, vốn không có pháp thật. Người nghe nên nhân nơi lời mà hiểu nghĩa, đừng chấp trước vào ngôn thuyết.
💥 GIẢI
Như Lai không có pháp để nói, chỉ vì phàm phu đối với đệ nhất nghĩa vọng khởi những tà chấp về một khác, có không, thường vô thường…, nên ngài bất đắc dĩ mượn ngôn thuyết để phá tình chấp của họ. Ý ở chỗ hiển bày cảnh giới đệ nhất nghĩa như thật, như ngón tay chỉ mặt trăng.
Không ngờ người ngu lại chấp vào ngôn thuyết mà sanh các kiến chấp, như voi sa lầy, không biết làm sao thoát ly được. Nên Lăng Nghiêm nói: “Các ông nếu dùng tâm phan duyên để nghe pháp thì pháp ấy cũng là phan duyên”.
Thế là nhân tiếng mà có phân biệt, chẳng nhận được pháp tánh.
Bởi Phật dùng âm thanh nói pháp vô sanh, âm thanh tức vô sanh; nếu đem tâm sanh diệt phân biệt theo âm thanh, thì âm thanh vô sanh ấy cũng sanh diệt. Nếu rõ tánh âm thanh là vô sanh, thì cũng biết nói vốn không nói.
Nên đoạn sau nói rằng chẳng nói tức là nói, nói tức chẳng nói. Hai thứ nghĩa sâu xa này để rửa sạch tập khí danh ngôn, nên đặc biệt nêu ra Như Lai nói pháp có bốn thứ lý luận, song lấy Chỉ luận làm đệ nhất nghĩa.
-
Trên phá tập khí danh ngôn.
-
Dưới khuyên vong ngôn mặc chứng.
O₇ - Nói rõ danh ngôn cùng dứt để vong ngôn mặc chứng
💥 GIẢI
Đây nói về Chỉ luận để nêu ra chẳng nói mà nói, sắp hiển bày danh ngôn đều dứt, răn nhắc khiến quên lời thầm chứng.
Ý Phật rằng ta thường nói về lìa một khác… những thứ lìa kiến chấp tứ cú, vì muốn thông đạt chỗ vô ngôn thuyết đệ nhất nghĩa đế, vì trừ dẹp lỗi tập khí danh ngôn của người ngu.
Đời vị lai, trong hàng đệ tử của ta có người trí huệ, nếu đem nghĩa này để hỏi người ngu vô trí, họ sẽ lại cho đó là câu hỏi không đúng. Vì sao? Vì người ngu kia chỉ chấp về danh ngôn, không ngộ thật nghĩa.
Rồi họ lại đem những luận thuyết kiến chấp tứ cú hư vọng như thường vô thường, một khác… lần lượt đến hỏi đệ tử ta rằng: Thế Tôn cũng nói những pháp này chăng? Đệ tử ta chỉ nên đáp rằng: Phật nói những thứ ấy đều là vô ký luận. Phải dùng chỉ ký để đáp, chắc chắn không thể dùng lối ly tứ cú để ứng đáp lại cho họ. Vì sao? Vì nghĩa của ly tứ cú là chỉ luận, không phải chỗ hiểu của người ngu kia.
Vì họ không đủ văn huệ, không đạt nghĩa thật. Bởi người ngu kia một bề chấp chặt danh ngôn, nếu nghe nói tướng ly ngôn thuyết liền sanh sợ hãi.
Phật muốn họ lìa sợ hãi, nên chỉ nói với họ là vô ký, lại chẳng vì nói quyết định.
Đối với điều này ta không nói, ý muốn khiến hàng ngu phu ngoại đạo kia, vĩnh viễn xa lìa luận thuyết tà kiến về tác giả, nên chẳng vì họ nói. ✅ Đây là chẳng nói mà nói, không phải chẳng nói suông đâu.
Có ngoại đạo hỏi Phật: “Không hỏi có lời, không hỏi không lời”. Đức Thế Tôn lặng yên giây lâu. Ngoại đạo liền lễ bái nói: “Thế Tôn đại từ đại bi, vén mây mù cho con”.
Đây chính là vì muốn khiến vĩnh viễn xa lìa tà kiến ngoại đạo nên chẳng nói. Thật là sâu xa! Tất cả chúng sanh bởi tập khí danh ngôn hí luận từ vô thủy tham chấp nơi nơi, như chó điên đuổi theo hòn đất, nên đức Thế Tôn đóng cửa thất ở thành Ma-kiệt-đà, Duy-ma lặng thinh ở Tỳ-da, chính là để tẩy trừ tập khí về tà kiến hí luận danh ngôn này.
💥 GIẢI
Đây nêu ra ý vô ký luận của ngoại đạo, và chỉ luận của Phật.
Do ở trên Phật nói ngoại đạo là vô ký luận, không biết thế nào là vô ký. Nên đây giải thích rằng: Do ngoại đạo vọng chấp tức ấm là ngã, lìa ấm là ngã, vì vậy nói thân với mạng là một, là khác… Đó là vô ký. Vì ngoại đạo kia mê mờ nghĩa nhân quả nên gọi là vô ký, chẳng phải trong pháp ta gọi là vô ký. Trong giáo lý của ta nói lìa năng thủ sở thủ, không khởi phân biệt, vọng tưởng chẳng sanh gọi là vô ký.
Phật nói thức Yên-ma-la, tên là Bạch tịnh vô ký, song vô ký ấy là vì không thể ghi chép.
Còn ngoại đạo mê mờ thật nghĩa của nhân quả, nên không có quả thật để ghi lại, nên gọi vô ký.
Phật nói thức Yên-ma-la cũng gọi Như Lai tạng, cũng tức là chân như.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Trong Như Lai tạng, tìm cầu đến đi, mê ngộ, sanh tử trọn không thể được”.
Vì Như Lai tạng không thuộc nhân quả, không thể dùng lời luận bàn, tâm suy tính, không thể ghi chép, nên cũng gọi vô ký, chẳng phải là chỗ hàng ngoại đạo Nhị thừa hiểu được, nên phải ngăn dứt họ, đó là chỉ luận vậy.
Pháp Hoa nói: “Giả sử đầy mười phương, đều như Xá-lợi-phất, nhiều như lúa, mè, tre, lau.
Các Bồ tát bất thối cũng đầy mười phương cõi, cùng suy chung so lường, không thể biết trí Phật”. Vì sao? Vì Phật trí không phải tâm thức có thể đến. Vì chẳng phải tâm thức có thể đến nên Xá-lợi-phất ba phen thỉnh, Thế Tôn ba phen ngăn lại mà nói: “Thôi thôi không nên nói, pháp ta diệu khó nghĩ”.
Ôi! Xá-lợi-phất còn như vậy, huống gì ngoại đạo, cho nên phải ngăn họ.
Vì sao ngăn họ? Đại Huệ, nếu người chấp trước nhiếp sở nhiếp, không biết tự tâm hiện lượng nên ngăn dứt họ.
Đây nói lý do của chỉ luận.
Sở dĩ ngăn họ mà không đáp đó, vì ngoại đạo kia chấp trước vọng pháp năng thủ sở thủ, không biết đấy chỉ là tự tâm hiện.
Nếu nói với họ về cảnh giới lìa tâm thức, chắc họ sẽ kinh sợ không tin, trở lại sanh khinh chê, phá pháp đọa vào đường ác. Hoặc là họ sẽ y vào tập khí danh ngôn lại chấp vào ngôn thuyết, tăng thêm tà kiến.
Vậy nên Phật khuyên răn hàng đệ tử đời ác sau này, ở trong nhóm người vô trí chớ nói kinh này. Vì muốn ngăn ác kiến của những hạng này nên ngăn dừng họ mà không đáp.
💥 GIẢI
Đây giải thích về hàng phục nạn vấn để rõ Như Lai thuyết pháp nhiều phương ứng biến không chấp một chỗ.
Gạn rằng: “Phật đã đối với những hạng người ấy dùng lối vô ký gác lại không đáp, song cũng có đáp, là sao?”. Đây giải thích rằng: Như Lai thuyết pháp ứng biến không phải một. Hoặc có khi một bề đáp thẳng, hoặc có khi hỏi lại, hoặc có khi vì họ giảng rộng.
Như Lai điều phục chúng sanh, ứng hợp căn cơ lập bày, như hạt châu ma-ni chiếu khắp, năm sắc rỡ ràng, nêu đoạt tùy nghi, giết tha tự tại. Cho nên có khi nói, có khi không nói, có khi nói tức là chẳng nói, có khi chẳng nói tức là nói.
Đó là “Khi nín mà nói, khi nói mà nín, cửa đại thí mở rộng không bế tắc”. Nhưng nói cùng chẳng nói, đều là hiển thị đệ nhất nghĩa đế, chỗ lìa ngôn thuyết, há có thể nhất định chấp là nói hay không nói.
Kinh nói Như Lai dùng bốn thứ ký luận vì chúng sanh thuyết pháp, e người nghe lại nghi rằng: Đã dùng bốn thứ ký luận thuyết pháp, tại sao trong đây đặc biệt vì ngoại đạo nói rõ về Chỉ luận? Đây đáp rằng: Chỉ ký luận, chẳng những ngày nay ta thường nói, song không phải vì căn cơ ngoại đạo, mà trong hàng đệ tử của ta cũng có căn cơ mau và chậm, đã thành thục và chưa thành thục.
Nếu hàng căn cơ chưa thuần thục, thì dừng không nói, vì để đợi lúc có thể nói. Hoặc vì khai phát cho đương cơ khiến sanh hâm mộ, như với Xá-lợi-phất nơi hội Pháp Hoa, với Bồ tát Kim Cang ở hội Hoa Nghiêm, ba phen thỉnh, ba phen ngăn, song chẳng phải là giữ kín không nói. Tức là dừng không nói với ngoại đạo, chỉ vì ngăn ác kiến của họ thôi, chỗ dừng tức là nói, cũng không phải có ý dứt tuyệt, vì Như Lai không bỏ một chúng sanh nào.
💥 GIẢI
Từ đây cho đến câu Tất cả pháp thường là nói chung Phật dùng Chỉ luận để chế ngự ngoại đạo, không giống với điều họ đã nói.
Bởi Phật tuy dùng 4 thứ luận thuyết pháp, trùm khắp ba căn cơ, mà Chỉ luận này cũng có khi dùng. Đến như nói pháp cho ngoại đạo, một bề riêng dùng Chỉ luận, vì nói cùng không nói đều là chỉ luận. Vì sao? Vì ngoại đạo không hiểu được các pháp vốn tự vô sanh, vọng chấp có Tác giả sanh hoặc vọng chấp Nhân sanh.
Do vọng chấp riêng có Nhân khác hay sanh ra các pháp, đó là vô nhân, nên ta nói nhân duyên chẳng sanh. Ngụy dịch: “Tất cả pháp, lìa Tác giả và Nhân, cho nên chẳng sanh, vì không có tác giả nên ta nói tất cả pháp chẳng sanh”.
Hơn nữa, ngoại đạo kia vọng chấp các pháp nhất định có cái hay sanh, ta chỉ dùng chữ “bất” để ngăn dừng, mà không từng riêng dùng ngôn thuyết để nói cho họ. Ngoại đạo chấp trước các pháp tự sanh, hoặc chấp các pháp tha sanh, hoặc chấp cộng sanh, hoặc chấp vô nhân sanh.
Trung Luận nói: Các pháp không tự sanh, cũng chẳng từ tha sanh, không cộng và không vô nhân. Cho nên nói vô sanh. Đây chính là chỉ dùng chữ “bất” (chẳng) để ngăn đó, nên là Chỉ luận.
💥 GIẢI
Đây lại giải thích vi tế về nghĩa vô sanh, để phá kiến chấp “sanh” của ngoại đạo.
Do ở trên Phật nói rằng: Ta nói các pháp không tánh vì lìa tự tánh, nên Đại Huệ nghi rằng: Cớ sao tất cả pháp đều lìa tự tánh? Vì vậy đến đây Phật đáp lặp lại rằng: “Khi ta dùng tự giác thánh trí quán sát, thấy tất cả pháp tự tướng cộng tướng đều chẳng thể được, cho nên nói tất cả pháp vốn tự vô tánh, nên chẳng sanh”.
❓❓❓ Hỏi:
Đã nói vì tất cả pháp lìa tự tánh nên nói vô sanh, tại sao lại nói tự tướng cộng tướng chẳng thể được mới gọi là lìa tự tánh?
📣📣📣 Đáp:
Vì ngoại đạo kia không biết các pháp chỉ do tâm hiện, vọng chấp thần ngã là tác giả thật có tự tánh, hay sanh ra các pháp. Hoặc lại chấp Phạm thiên hay sanh các pháp. Hoặc chấp rằng Tứ đại, Cực vi, Thời… mỗi cái đều có tự tánh, hay sanh các pháp.
Hoặc chấp các pháp từ tám vạn kiếp đến nay, vô nhân tự có, tự nhiên mà sanh. Bởi chấp Thần ngã làm tác giả là chấp về tự sanh, từ Phạm thiên, tứ đại… là chấp tha sanh cộng sanh, từ tự nhiên là chấp vô nhân sanh.
Do vọng chấp 4 thứ này, mỗi cái đều có tự thể, hay sanh các pháp, đó là tự tướng. Do không rõ lý duy tâm, vọng thấy các pháp từ 4 thứ đó sanh, đó là cộng tướng. Thế nên đây Thế Tôn phá rằng: Các pháp không phải từ bốn pháp ấy sanh.
Vì sao? Vì 4 pháp ấy đều không tự tướng, không thể hòa hợp mà sanh các pháp, nên nói Tự tướng cộng tướng chẳng thể được. 4 pháp ấy đã chẳng thể được, đủ biết tất cả pháp không tự tánh vậy.
Đã không tự tánh, thì các pháp lại từ đâu sanh? Đây chính là lý do vì tất cả pháp lìa tự tánh, nên nói các pháp vốn tự chẳng sanh. Bởi ngoại đạo kia dùng vọng chấp tự tướng cộng tướng chẳng lìa tự tánh, nên sanh, ta dùng chánh trí quán sát tất cả đều lìa, nên chẳng sanh. Đoạn văn sau, câu Vì sao… đều là lặp lại câu nghi vấn.
💥 GIẢI
Đây giải thích nghĩa tự tướng không thể được ở đoạn trên để phá kiến chấp về tướng.
Do ngoại đạo kia vọng thấy chư pháp, chấp tự tướng cộng tướng thật có tự thể. Ta dùng chánh trí quán, đều chẳng thể được. Vì sao? Nếu tự tướng cộng tướng thật có tự thể, thì có thể giữ lấy.
Đã có thể giữ lấy thì có thể đem đến. Đã có thể giữ thì cũng có thể bỏ. Có thể bỏ thì có thể đem đi. Nay quán các pháp đến không từ đâu, đi không chỗ về. Đã không đến đi ắt không thể được. Trong cái không thể được mà vọng chấp thật có tự tướng cộng tướng, đều là tà kiến vậy.
Nên Vĩnh Gia nói: “Lấy chẳng được, bỏ chẳng được. Trong cái chẳng được, được cái gì”.
Do chẳng thể được nên nói các pháp lìa tự tánh chẳng sanh, sở dĩ vậy nên nói “thể tức vô sanh”. Nhị Tổ xin Tổ sư pháp an tâm, Tổ nói: “Đem tâm đến, ta an cho”. Nhị Tổ nói: “Con tìm tâm không được”.
Tăng hỏi Vân Môn: “Khi một vật không thể đem đến thì thế nào?”. Sư nói: “Buông hết đi!”. Tăng nói: “Một vật không đem đến, buông cái gì?”. Sư nói: “Buông không được thì gánh đi!”.
💥 GIẢI
✅ Đây là phá kiến chấp sau khi chết đoạn diệt của ngoại đạo.
Do tất cả pháp không tự tánh nên chẳng sanh, vì chẳng sanh nên chẳng diệt. Chẳng phải sanh rồi sau mới diệt, cũng không phải sau khi chết đoạn diệt.
💥 GIẢI
Đại Huệ! Vì sao tất cả pháp vô thường? Nghĩa là khi tướng khởi, tánh nó vô thường nên nói tất cả pháp vô thường.
Đây phá kiến chấp xác định thường của phàm phu ngoại đạo.
Vì phàm phu vọng nhận tứ đại làm tự thân tướng. Chấp quả báo nhất định trong một thời và những kế hoạch ngàn năm trăm năm là thường.
Ngoại đạo vọng chấp chúng sanh trong mười phương sanh diệt tuần hoàn, không từng tan mất, đều là thể hằng còn, chấp cho là thường. Do nhận vô thường là thường, nên ở đây Phật nói tất cả pháp vô thường.
Vì tướng vừa khởi liền diệt, sát-na chẳng trụ, không có tánh thường, nên ta nói vô thường để ngăn kiến chấp thường của ngoại đạo, chẳng phải thật là vô thường.
💥 GIẢI
Đây phá Nhị thừa dùng chơn thường làm kiến chấp vô thường. Vì Nhị thừa không rõ các pháp đương thể chơn thường, mà sanh nhàm lìa, nên ở đây Phật nói tất cả pháp thường. Vì tướng các pháp khởi tức là chẳng khởi, như sấm chớp liền diệt.
Vì vô sở hữu nên tánh vô thường là thường, nên ta nói tất cả pháp thường. Vì mới sanh liền có diệt, vì vốn là tánh vô sanh, nên nói: Tướng khởi tánh vô sanh, vô thường là thường, chẳng phải lìa ngoài các pháp này, riêng cầu cái chơn thường. Vì tất cả đều đồng “như” nên trừ ngoài chân như, không mảy may việc có thể được, nên tức các pháp kia sanh mà tánh vô sanh, đương thể chân thường. Đây đồng với đoạn trước nói hoặc loạn thường.
💥 GIẢI
✅ Đây là tụng Như Lai dùng 4 thứ ký luận vì chúng sanh thuyết pháp.
4 thứ ký luận: Một, tùy theo câu hỏi mà đáp đó là nhất hướng (Ngụy dịch: Đáp thẳng).
Hai, hỏi lại câu hỏi mà đáp, gọi là gạn hỏi lại (Đường dịch: Chất vấn để đáp).
Ba, biện luận tỉ mỉ để đáp, gọi là phân biệt. (Đường dịch: Chất vấn để đáp).
Bốn, vì chiết phục ngoại đạo nên gác qua một bên mà chẳng đáp, gọi là chỉ luận (Đường và Ngụy dịch là trí đáp).
Để hàng phục ngoại đạo
Từ có và không sanh Thầy Tăng-khư, Tỳ-xá.
Ý bài kệ này nói rằng Phật dùng bốn thứ luận không phải riêng vì đệ tử thuyết pháp, mà cũng vì hàng phục ngoại đạo.
Đường dịch: Số luận cùng Thắng luận, do danh từ Phạn ngữ Tăng-khư chính là Tăng-khư-da, Trung Hoa dịch là Số thuật.
Số tức là huệ số, nghĩa là ước độ nguồn gốc các pháp, lập tên theo số.
Cho nên lập thần ngã chủ tể, từ minh sơ sanh giác… vị chi là hai mươi lăm minh đế, nên cũng gọi là Số luận.
Tỳ-xá cũng gọi là Tỳ-thế, nói đủ là Phệ-thế-sử ca-sa đa-la, Trung Hoa dịch là Thắng luận, vì phái này thành lập “Lục Cú Nghĩa” làm Thắng tánh, hoặc cũng vì do người tối thắng tạo ra.
Lục cú: Một là thật, hai là đức, ba là nghiệp, bốn là đại hữu, năm là đồng dị, sáu là hòa hợp.
Tuy nói lục cú, mà dùng hòa hợp nhân duyên làm ngã hay sanh các pháp. Thầy tức là hai luận sư ấy.
Tất cả đều vô ký Họ hiển thị như vậy.
Đây kết luận nêu những lập thuyết của ngoại đạo đều là vô ký. Đường dịch: Các thứ pháp như thế, tất cả đều vô ký.
💥 GIẢI
Đây tụng về nghĩa của năm đoạn, từ lìa tự tánh trở xuống.
Do tất cả pháp đều không tự tánh, bình đẳng như như, lìa tướng ngôn thuyết, vì lìa ngôn thuyết nên nói là lìa tự tánh.
Vì không tự tánh nên sanh diệt đoạn thường… đều là vọng kiến.
- Từ trước, Đại Huệ hỏi Phật nói duyên khởi tức là nói
về nhân duyên khởi dừng ngang đây, phá chung hết hai thứ chấp trước của ngoại đạo về ngôn thuyết tự tánh và sự tự tánh; những tà kiến về có không, đoạn thường… để giảng rõ về ngoại đạo tà thiền.
- Chương sau sẽ nói về tướng chung, tướng riêng của Thanh văn, để giảng rõ về thiền định thiên lệch của hàng Nhị thừa. Tổng kết phần giải thích về ngu phu thiền trong bốn thứ thiền của chương trên.
M₂ - Thiền định thiên lệch của Nhị thừa
💥 GIẢI
Đây hỏi về hành tướng chung và riêng của Nhị thừa, để giải thích về hành tướng thiền định thiên lệch của Nhị thừa trong phần ngu phu thiền.
Tướng chung và tướng sai biệt nghĩa là Thanh văn là tên chung, mà có hành tướng của bốn quả mỗi mỗi riêng khác. Cho nên bắt đầu hỏi từ Sơ quả, ý tại chỗ trải qua tứ quả, để nói rõ cũng có đốn tiệm không đồng.
💥 GIẢI
✅ Đây là thuật rõ lợi ích của câu hỏi.
Do trước đức Thế Tôn đã từng một phen quở trách, bảo đừng rơi vào ác kiến của ngoại đạo Nhị thừa. Lại nói: Như Lai dùng hai thứ thần lực để gia trì người tu hành, không rơi trong ma nghiệp ngoại đạo, và chỗ thiền định của Thanh văn.
Nên đây Đại Huệ từng nghe Phật nói về hành tướng tà thiền ngoại đạo rồi, chỉ không biết tướng chung và tướng riêng của Thanh văn thiền như thế nào. Ý rằng Thanh văn, danh từ tuy gọi chung là một, mà có bốn quả sai biệt không đồng.
Nếu biết rõ hành tướng sai biệt của mỗi quả vị, ắt khả dĩ tự trừ sạch hai chướng mà không rơi vào trong đó, cũng có thể giáo hóa chúng sanh xa lìa tâm tăng thượng mạn, không đến nỗi được ít cho là đủ, rồi có thể vượt qua các địa, rốt ráo được quả Phật, mà dùng thân mạng, tài sản vô tận để dạy dỗ, nuôi dưỡng chúng sanh.
Có lợi ích thù thắng như thế, nên mới thỉnh vấn như thế. Nói Tướng phương tiện, nghĩa là sự tu hành tứ quả, mỗi mỗi đều có phương tiện hành tướng, tức là quán hạnh vậy.
Tu-đà-hoàn, dịch là Dự lưu, nghĩa là phần Kiến hoặc, 88 kiết sử của Tứ đế trong 3 cõi đã đoạn tận, tức chứng Sơ quả. 2 Vì mới vào dòng Thánh nên gọi là Dự lưu.
Tư-đà-hàm, dịch là Nhất vãng lai, nghĩa là trong tám mươi mốt phẩm Tu hoặc của 3 cõi chín địa, chỉ mới đoạn sáu phẩm trước của Dục giới (ngũ thú tạp cư địa) là chứng Nhị quả.
Từ đây tới khi chết, còn phải một phen sinh lên hai cõi Sắc và Vô sắc, một phen trở lại Dục giới, mới đoạn trừ hết 3 phẩm Tu hoặc còn lại; cho nên gọi là Nhất lai.
A-na-hàm, dịch là Bất lai, nghĩa là chín phẩm Tu hoặc của Dục giới đã dứt sạch, liền chứng Tam quả. Từ đây vĩnh viễn không thọ sanh trong Dục giới, không còn trở lại, nên gọi là Bất lai. 3 quả trên đây gọi là hữu học.
A-la-hán dịch là Vô sanh, cũng gọi là Sát tặc, là Ứng cúng, nghĩa là 72 hai phẩm Tu hoặc của 2 cõi (Sắc, Vô sắc) 8 địa đã dứt sạch, liền chứng Tứ quả A-la-hán, gọi là địa vị vô học, vượt khỏi ba cõi, lìa hẳn 4 loài sanh (noãn, thai, thấp, hóa) nên gọi là vô sanh.
✅ Đây là do chứng được lý diệt đế, không còn thọ thân sau, nên được tên Vô sanh, không phải là cái vô sanh chân thật của hàng Bồ tát Bát địa.
Vì hay phá phiền não nên gọi là Sát tặc, có thể làm ruộng phước nên gọi là Ứng Cúng.
Tu-đà-hàm đoạn phần A và B của Dục giới. Còn trở lại cõi Dục một phen nữa (Nhất lai) để đoạn nốt phần C.
Từ đây chín phẩm tư hoặc của Dục giới đã đoạn sạch không còn tái sanh trở lại cõi Dục chứng quả A-na-hàm (Bất lai).
Còn lại 72 phẩm tư hoặc của cõi Sắc và Vô sắc (trong 81 đã trừ 9, còn 72), đoạn sạch hết thì gọi là A-la-hán (Vô sanh).
💥 GIẢI
Trước hỏi về Tu-đà-hoàn và tướng chung tướng riêng của quả vị Tu-đà-hoàn. Nên ở đây đáp rằng nói chung có ba bậc. Nghĩa là người có ba căn cơ nên quả cũng có ba bậc. Do căn cơ có mau chậm, bén nhạy trì trệ, chẳng phải thật có ba bậc. Cho nên nói hạ, trung, thượng.
💥 GIẢI
✅ Đây là nói về hạng căn cơ quá chậm lụt.
Đường dịch: “Ở trong các cõi sanh lại bảy lần là tột cùng”.
Nghĩa là chín phẩm câu sanh phiền não của Dục giới, cộng lại có nhuận thất sanh. Nhuận thất sanh là phẩm đầu sanh lại 2 lần, 3 phẩm tiếp theo mỗi phẩm sanh 1 lần, 2 phẩm kế cộng chung sanh 1 lần, 3 phẩm cuối cộng chung sanh 1 lần.
Vì phẩm đầu sức mê hoặc mãnh liệt thô trọng, những phẩm sau sức yếu vi tế. Vì trên cõi trời rất vui, không có sức đoạn trừ hoặc nghiệp, nên cần phải hạ sanh cõi người, gặp cảnh rồi mới đoạn dứt. Vì căn cơ chậm lụt, nên phải tái sanh hết bảy lần rồi sau mới đoạn dứt. Câu sanh phiền não được nói ở đây, là ái dục, chẳng phải là câu sanh vô minh.
💥 GIẢI
✅ Đây là căn cơ bậc trung.
Do căn cơ có chút ít lanh lẹ, nên trải qua sự thọ sanh không giống nhau, nên ba phen hay năm phen tái sanh rồi nhập Niết-bàn.
💥 GIẢI
✅ Đây là căn cơ bậc thượng.
Nghĩa là bậc Tu-đà-hoàn thượng căn, ngay trong đời này liền chứng quả A-la-hán, gọi là hiện diệt Tu-đà-hoàn. Không nói đến khoảng giữa trải qua nhị quả, tam quả.
Xem phần nói về 2 căn cơ Trung và Thượng, có câu Nhập Niết-bàn đó là hàng căn cơ bậc trung cũng không trải qua 2 quả vị sau, thế thì trải qua 2 quả vị sau là hạng căn cơ bậc hạ. Nếu theo kinh 42 Chương nói, thì Tu-đà-hoàn 7 lần tử, 7 lần sanh mới được quả A-la-hán. Còn với bậc đoạn ái dục như đoạn tứ chi, thì căn cơ bậc hạ cũng không trải qua 2 quả sau.
💥 GIẢI
Đây nói phần kiết sử bị đoạn có 3 bậc, trong 1 bậc lại chia ra 3 bậc Thượng, Trung, Hạ nữa, nên các kiết sử ở mỗi địa, mỗi địa tổng cộng có 9 bậc, 9 địa cộng chung có 81 mốt bậc.
💥 GIẢI
✅ Đây là tên của 3 kiết sử.
3 kiết sử này là 3 thứ trong 10 Sử phiền não. Nghi là 1 trong 5 Độn Sử, Thân kiến, Giới thủ là 2 trong 5 Lợi Sử.
❓❓❓ Hỏi:
3 sử phiền não trên, là cội gốc sanh tử trong 3 cõi, hàng Thanh văn thừa đoạn tận 10 Sử mới ra khỏi 3 cõi. Tại sao ở đây chỉ nói đoạn 3 Kiết Sử?
📣📣📣 Đáp:
Trong 5 độn sử, chỉ nêu riêng nghi đó, vì thân kiến đoạn thì tham, si tự nhiên không sanh. Đã theo lời Phật dạy điều phục tâm nên không sân. Còn tâm mạn, trong bốn quả chưa đoạn sạch nên không kể đến mạn. Vì chưa vào trong vị Phật pháp, ban đầu tôn trọng thiên ma, trở lại nghi ngờ Phật. Nay đã khiến vào chánh tín, thì không nghi Phật nghi pháp, đã thấy lý chắc thật, cũng không tự nghi mình, nên riêng nói đoạn nghi.
Trong 5 lợi sử không kể đến 3 cái kia (biên kiến, tà kiến, kiến thủ) vì đều là tà kiến của ngoại đạo. Nay đã nương giáo lý của Phật, nên không kể ở đây.
Lại có ý rằng: Si là vô minh, còn tham là đắm trước Niết-bàn, tuy đoạn dục tham mà chưa đoạn được tham Niết-bàn, cả hai cái này (si và tham) đều chưa đoạn tới, nên không nói.
💥 GIẢI
✅ Đây là chỉ chung tướng đoạn Kiết Sử chứng Quả vị. Tăng tấn lên bậc Thượng Thượng, là có thể đoạn nhanh chóng các lậu hoặc Thượng Thượng phẩm, liền chứng quả A-la-hán Thượng Thượng.
💥 GIẢI
Ở đây nêu ra Thân Kiến, để giải thích hành tướng của Sơ quả.
Thân là thân 5 uẩn, chính là danh sắc. Câu sanh là Danh, nghĩa là Thọ, Tưởng, Hành, Thức - 4 Uẩn, vốn không tự tánh, chỉ dùng danh ngôn làm thể. Một thứ vọng chấp từ thời vô thủy đến giờ, nên gọi là Thân Kiến câu sanh. Vọng tưởng phân biệt là Sắc. Nghĩa là thân tứ đại huyễn sắc này xưa nay không có, chỉ dùng sức của nhân duyên, hòa hợp vọng thành, thí như người huyễn hóa giả danh là người, ngu phu không hiểu, vọng chấp thật có tự tánh, phân biệt là xấu là đẹp, sanh tham dục, nên gọi là Thân Kiến phân biệt.
💥 GIẢI
Đây giải thích về hành tướng đoạn trừ Thân Kiến phân biệt.
Bởi vì cái sắc thân huyễn vọng của mình của người, từ xưa đến nay vốn không có, chỉ y cứ vào nghiệp vọng tưởng huyễn hóa tứ đại giả hợp mà thành hình thể. Giống như người huyễn hóa nương vào duyên mà khởi. Như thầy huyễn thuật giỏi ở đời, huyễn tạo các người nam nữ, người ngu không rõ, vọng sanh phân biệt chấp trước đẹp xấu.
Nên nói Như y cứ vào duyên khởi mà có tánh chấp trước. Vả lại thân năm uẩn giả hợp duyên sanh ấy, không mà chợt có, thật ra chẳng có chẳng không, đã chẳng có không, thì không có thật thể, mà hàng phàm phu ngu si vọng sanh chấp trước, chấp giữ cho là thật, như sóng nắng vốn chẳng phải là nước, mà bầy nai khát vọng sanh tưởng là nước. ✅ Đây gọi là tướng thân kiến phân biệt của Tu-đà-hoàn.
Ngụy dịch: “Vì vô tri nên từ đời vô thủy đến giờ hư vọng chấp tướng. Thân kiến nhơ cấu này, khi được nhân vô ngã bèn có thể xa lìa”.
Nên nói Thân kiến phân biệt này, Tu-đà-hoàn dùng nhân vô ngã nhiếp thọ vô tánh, để đoạn trừ cái chấp trước vô tri từ lâu xa. Nghĩa là ban đầu ở địa vị Kiến đạo, chứng đắc ngã không bèn có thể đoạn trừ. ✅ Đây là mới phá riêng sắc ấm, là đoạn ngã kiến phân biệt vậy.
💥 GIẢI
Đây giải thích về hành tướng đoạn trừ thân kiến câu sanh.
Đường dịch: “Do quán sát khắp cả thân mình thân người, nên thấy thọ… bốn uẩn là tướng vô sắc, nên thấy sắc do đại chủng mà được sanh khởi, do các đại chủng xen nhau làm nhân”. Lấy đó làm đại diện để quán 4 uẩn thọ… của mình của người, chỉ có danh từ vốn không có thật thể. Hơn nữa sắc ấm tuy có giả tướng, mà chỉ là được tạo tác từ bốn đại chủng, lần lượt làm nhân cho nhau để thành ra hình vóc này.
Đã có hình vóc này thọ sanh thì 4 ấm kia cũng đồng thời mà có, nên gọi là câu sanh. Song trong 4 đại, mỗi đại không có chủ tể, ai có thể nhóm họp để thành sắc?
Nên nói Vì sắc không nhóm họp. Sắc ấm có chất ngại còn không, huống hồ thọ… 4 ấm kia, vốn không có sắc tướng, chỉ có danh tự, đâu chẳng không ư? Song cái câu sanh này, là đứng về mặt bốn uẩn căn cứ vào sắc, vọng chấp tự tướng của thân tâm mà nói, chẳng phải câu sanh vô minh, học giả nên biết.
💥 GIẢI
✅ Đây là kết luận quán hạnh thành tựu về thân kiến.
Có là sắc, không là 4 uẩn kia. Nghĩa là Tu-đà-hoàn hay quán thân năm uẩn mình và người, thảy đều không, vô sanh, ắt đoạn được thân kiến. Nếu thân kiến đoạn, thì tham ái không sanh, tham ái chẳng sanh, thì mầm mống sanh vĩnh viễn tuyệt dứt, chẳng thọ sanh trở lại.
Nên Pháp Hoa nói: “Các nhân của khổ, tham dục là gốc, nếu diệt tham dục, khổ không chỗ nương gá”. Thế nên thân kiến đoạn thì chứng Sơ quả. ✅ Đây gọi là tướng đoạn trừ thân kiến.
💥 GIẢI
Đây giải thích về hành tướng đoạn nghi.
Luận nói rằng: “Nghi đó, là đối với các lý chân thật có tánh do dự, vì hay làm chướng ngại lòng tin chắc thật không nghi”. Nghi có 3 thứ, là nghi lý, nghi pháp, nghi thầy. Được tướng pháp thiện kiến là đối với pháp chân đế đã được, khéo hay quán sát thấy lý chân thật ấy, nên đối với lý không nghi.
Và hai thứ thân kiến ở trước đã đoạn, nên đối với các pháp không sanh nghi, đó là đối pháp không nghi. Vì nếu đối với lý, với pháp có nghi, thì cũng nghi người. Chỉ biết tôn trọng hàng thiên ma ngoại đạo cho đó là đại sư, trở lại nghi Phật là thanh tịnh chẳng thanh tịnh. Nay đã thấy lý chân thật, đối với pháp không nghi, thì không nghi người, nên nói Không ở chỗ khác khởi tưởng cho là bậc đại sư. Đây gọi tướng đoạn nghi của Tu-đà-hoàn.
💥 GIẢI
✅ Đây là giải thích hành tướng đoạn giới thủ.
Bởi vì giới lành hữu lậu, là nhân của trời người, mà Tu-đà-hoàn sở dĩ không chấp thủ đó, vì thấy rõ tướng khổ của sự thọ sanh. Phàm người chấp thủ, là hàng phàm ngu đối với các cõi, tham đắm cái vui thế tục, nên khổ hạnh trì giới, nguyện sanh về cõi đó cõi kia. Vì vậy phàm phu nguyện sanh trong cõi trời người, mới giữ năm giới mười điều lành.
Còn người ngu ngoại đạo, sợ tướng khổ đời sau, nên giữ giới trâu, giới chó…, nhổ tóc, bôi mũi, nằm trên gai nhọn, chông nhọn, các thứ khổ hạnh. Nói rằng đời này chịu khổ nếu tận, tương lai một bề được vui. Đó là tướng chấp thủ giới tà. Hàng Tu-đà-hoàn không giữ những tướng như vậy.
Song ở đây cũng có người giữ giới phẩm, là chỉ vì cầu pháp tối thắng vô lậu vô phân biệt. Vì thế chỗ tu ấy là định cọng giới, không phải là phàm ngu chấp thủ giới tà. Đó gọi là tướng đoạn dứt giới thủ.
💥 GIẢI
Đây kết luận lìa lỗi. Bởi tham ái từ thân kiến sanh, si từ nghi và giới thủ sanh.
Nay ba kết đã đoạn, thế là nhân đoạn và duyên không sanh. Ba kết đã đoạn, nếu còn tâm hay đoạn, thì cũng rơi vào thân kiến, trở lại không thể đoạn các kết sử.
Thế là có 2 lỗi, nên Ngụy dịch: Nếu họ như thế, không lìa hai lỗi.
💥 GIẢI
Đây nêu lên chỗ đoạn dứt cội gốc sanh tử.
Kinh nói: “Tất cả chúng sanh đều lấy dâm dục làm tánh mệnh chính, hay khiến tất cả chúng sanh bị sanh tử chẳng dứt, là ái và dục vậy”.
Tu-đà-hoàn đã biết dục lạc hiện tại là nhân khổ đời sau, nên vĩnh viễn đoạn dứt tâm dâm dục.
Nên nói: Họ không sanh. Vì sao? Vì cái vui của thiền định giải thoát, cái vui của ngũ dục thế gian không thể so sánh được.
Do được vui thiền định nên có thể đoạn dứt dục lạc kia. Nhưng họ chỉ đoạn dục tham, chưa đoạn tham thú hướng Niết-bàn.
Vì sao? Vì hàng Nhị thừa tham trước cái vui tịch diệt của tam-muội, không khởi một niệm độ sanh, nên Phật quở rằng: “Uống rượu tịch diệt, nằm trên giường vô vị, là hạng mầm cháy giống hư”.
Nên đây đặc biệt nói Chẳng hướng đến đoạn tham Niết-bàn. Xem chỗ không đoạn tham Niết-bàn này, thì Sơ quả ở đây không phân chia lanh lợi hay chậm lụt, chỉ cần đoạn ba kiết sử liền chứng Tứ quả vậy.
💥 GIẢI
Đây giải thích hành tướng của Nhị quả.
Tư-đà-hàm tên là Nhất vãng lai. Chóng là chỉ một phen đến. Sắc tướng là sắc uẩn, vọng tưởng là thọ… 4 uẩn sau. Nghĩa là do trí quán sanh không, một phen quán chiếu sanh tướng của ngũ uẩn, không khởi tâm phân biệt. Ngụy dịch: “Chẳng phải là tưởng kiến hư vọng phân biệt”, nên nói kiến tướng không sanh, vì khéo thấy tướng thú hướng của thiền.
✅ Đây là hàng phàm phu lợi căn, không cần trải qua ba lần, năm lần, bảy lần sanh trở lại để đoạn kiết sử, không vào Sơ quả, một phen phát tâm liền lên Nhị quả. Chỉ cần một lần trở lại liền chứng Niết-bàn, nên nói Chóng đến đời này, chấm dứt mé khổ được Niết-bàn.
Do đây mà xem thì quả Tu-đà-hoàn có ba hạng căn cơ, vì căn có nhanh chậm, mê hoặc có dày mỏng nên phần đoạn kiết sử có lâu mau không đồng. Nay quả Tu-đà-hàm này với quả A-na-hàm sau đều đứng về mặt phàm phu lợi căn chướng mỏng, vừa phát tâm liền chứng quả, trong một đời đắc đạo, không cần trải qua thứ lớp trước sau.
Vì sao? Vì ở đoạn trước nói rằng “Ngay nơi hoặc loạn khởi lên chủng tánh Thanh văn”, nên ở đây là quán thẳng năm uẩn cạn sâu để nói về quả vị.
💥 GIẢI
Đây giải thích hành tướng của Tam quả.
A-na-hàm dịch là Bất lai. Bởi ở trước, Tư-đà-hàm chỉ có thể quán năm uẩn trong hiện tại, không khởi phân biệt, chưa quán được vị lai, nên cần phải một phen trở lại, sau mới được Niết-bàn.
Nay A-na-hàm, căn tánh rất lanh, có thể quán sắc uẩn trong ba đời đều vô tánh, lại thấy được chỗ sanh ở đời sau đều có các khổ, tai họa lỗi lầm, nên chán khổ đoạn tập, khiến cho 4 uẩn sau chẳng sanh vọng tưởng, liền chóng dứt được ba kiết sử.
Đây tức là ngay một đời chứng quả, không còn trở lại, nên gọi là Bất lai. Đây cũng là từ phàm phu vào thẳng Tam quả, chóng chứng vô sanh.
💥 GIẢI
✅ Đây là giải thích hành tướng của Tứ quả. Nghĩa là quả vị A-la-hán này, là chỗ rốt ráo mà ba quả vị trước, dù căn cơ nhanh chậm đều thú hướng đến.
Nếu đến quả vị này, thì các thiền tam-muội và bát giải thoát tự nhiên liễu đạt, cũng có thể chứng một phần thập lực, tam minh lục thông thảy đều thành tựu.
Đến như phiền não phát nghiệp, chiêu cảm các khổ đều đã đoạn vĩnh viễn. Tất cả vọng tưởng đều diệt sạch không còn thừa, nên đây được danh xưng A-la-hán.
Bởi 4 quả này, đều đứng về mặt quán thẳng vọng pháp năm uẩn, để rõ nghĩa “Ngay nơi hoặc loạn khởi lên chủng tánh Thanh văn”.
Chỉ do căn cơ bén nhạy hay chậm lụt cho nên có ba quả trước sai biệt không đồng, kỳ thật đều gọi chung là Thanh văn, để hiển rõ tướng chung, tướng riêng, chẳng phải như các kinh khác nói có quả vị nhất định.
💥 GIẢI
Đây kết nêu bày chẳng phải chân quả.
Ý của Đại Huệ là phân biệt rõ ràng chân ngụy, nên hỏi trong ba bậc A-la-hán, đây thuộc A-la-hán nào.
Phật nói: Chỗ ta nói là hàng định tánh Thanh văn thú hướng tịch diệt, đoạn bốn trụ kiết, ra khỏi khổ sanh tử, được Niết-bàn, là danh tự La-hán, chẳng phải A-la-hán chân thật.
Hàng Bồ tát Thập địa trong Hoa Nghiêm là A-la-hán chân thật, tức trong kinh này nói những người hành Bồ tát hạnh, là những vị nguyện phương tiện, tức là trong ẩn hạnh Bồ tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn.
Ngoài ra còn có các vị do Phật hóa hiện là vì trang nghiêm các cõi nước Phật, và vì làm chúng hội quyến thuộc. Hai hạng Thanh văn này, chẳng phải chỗ ta đề cập đến trong đây. Bởi các Thanh văn ở đây, quả đã không thật mà nhân cũng không thật, nên văn sau kết lỗi.
💥 GIẢI
Đây kết hàng Nhị thừa nhân chẳng phải chân nên quả chẳng rốt ráo.
Bởi vì hàng Thanh văn ưa tịch diệt ấy, chỉ chứng thiên không, chưa đạt thật tướng của chân lý. Do vô minh còn đủ nên y cứ vọng tưởng mà thuyết pháp thì pháp chẳng phải chân pháp. Vì chỉ cùng tận sanh tử mà cho là giải thoát, kỳ thật chưa được giải thoát tất cả, mà dối xưng là đắc quả.
Chỉ có Diệt định chưa được đại định Thủ Lăng Nghiêm mà dối xưng là được thiền. Trong vô sở đắc dối cho là có chứng đắc. Vì không hiểu rằng người nhập thiền định và thiền định, thảy đều viễn ly, nên vọng chấp Niết-bàn cho là chân quả.
Chỗ được diệt độ của họ cũng chẳng phải là thật diệt độ, chỉ theo tự tâm vọng thấy mà nói có tướng đắc quả. Nên văn trước nói: “Trước sau chuyển tiến, tướng chẳng trừ diệt”. ✅ Đây là ngu phu sở hành thiền.
Luận nói: “Hiện tiền có mảy may, cho là tánh duy thức, vì còn có sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”. Bồ tát còn vậy, huống hàng định tánh Thanh văn ư!
💥 GIẢI
✅ Đây là tổng kết phần ngu phu sở hành thiền của ngoại đạo Thanh văn trên đều chẳng phải nhân chân thật, dạy bảo nên lìa lỗi dứt quấy.
Thiền, chỉ chung thiền ngoại đạo và Nhị thừa. Vô lượng là chỉ riêng cõi trời Quảng Quả của người tu Tứ vô lượng tâm; loại thiền dị sanh hữu lậu.
Vô sắc giới là chỉ riêng Tứ không xứ định. Các loại thiền kể trên, tuy có khác biệt giữa thế và xuất thế, kỳ thật thảy đều chưa lìa khỏi tướng tâm lượng.
Nên ở đây khuyên hành giả tu như thật, nếu muốn vượt qua các thiền Nhị thừa và ngoại đạo, cần phải xa lìa tướng tự tâm hiện lượng.
Nhân Minh Luận nói rằng: “Hiện lượng có hai thứ là Chân và Tự”. ✅ Đây là Tự hiện lượng.
Vì chưa quên tâm lượng, còn có tướng chấp thủ nên khuyên cần vượt qua. Chữ Nhiên ở đây là cho phép.
Nghĩa là không những không cho phép thân cận tập tành ngoại đạo tà thiền, mà ngay nơi loại tam-muội Diệt thọ tưởng của hàng Nhị thừa, ở trong pháp vượt qua tự tâm hiện lượng của ta cũng quyết định không cho phép.
Vì sao? Vì những loại ấy còn có tâm lượng, cho nên phải xa lìa.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói
Những người tu không thể thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ riêng thành Thanh văn, Duyên giác, và thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương và quyến thuộc của ma, đều do không biết hai thứ căn bản, tu tập lầm lộn như nấu cát muốn thành cơm, dù cho trải qua số kiếp nhiều như vi trần, rốt cuộc không thể được.
Vì cát chẳng phải là căn bản của cơm, nên muốn chứng vô sanh cần phải xa lìa tâm tướng là chỗ đệ nhất nghĩa. Vì thế ở đây đặc biệt răn dạy.
💥 GIẢI
Đây tụng tổng kết về ngu phu thiền. Tứ vô lượng tức là tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả.
Người cõi trời Quảng Quả, vì muốn trừ cái sân não tăng ái không vui của chúng sanh nên tu 4 tâm này. Đây cũng là dị sanh hữu lậu thiền, không phải là Tứ vô lượng tâm của Phật. Nghĩa là các hành tướng thiền của ngoại đạo Nhị thừa, đều là mỗi mỗi vọng kiến, chấp giữ tướng tự tâm, kỳ thật bọn họ vốn không có
💥 GIẢI
Đây tụng riêng Nhị thừa không chân thật.
Nghĩa là hàng Thánh nhân tứ quả mà tâm chưa lìa hoặc loạn.
Tức là chỗ tu thiền định, vào được quán ngã không, mà các tướng bị quán như xương trắng, vô thường, khổ, bất tịnh… đều không lìa chấp trước. Tức là cái chân đế được thấy do đoạn hoặc, cũng không lìa vọng kiến, chấp thủ tướng Niết-bàn. Nên nói Thiền giả, thiền được duyên; đoạn tri, thấy chân đế, đây là lượng vọng tưởng.
Nếu biết những việc đây không chân thật, tức được giải thoát rốt ráo. Chữ tri trong đoạn tri, là phân biệt.
-
Trên đây giảng chung về ngu phu thiền đã xong.
-
Kế sau đây nói về quán sát nghĩa thiền.
L₂ - Quán sát nghĩa thiền
💥 GIẢI
Đây nêu ra hai loại giác chân và vọng, để giải thích về hành tướng của quán sát nghĩa thiền trong bốn thứ thiền ở trước.
Đường dịch: Có hai thứ giác trí, là quán sát trí và tướng chấp thủ phân biệt chấp trước kiến lập trí. Bởi pháp chẳng phải có không, chỉ theo trí mà chuyển biến. Nếu y theo chánh trí quán sát thì các pháp chẳng có, nếu dùng tà trí quán sát thì các pháp chẳng không.
Chẳng không thì tứ cú khởi, chẳng có thì nhất chân riêng lập. Nhất chân lập thì tứ cú ly, tứ cú ly thì tâm cảnh tuyệt, tâm cảnh đã tuyệt thì người pháp đều quên, nên quán sát nghĩa thiền này là vì để phá pháp chấp.
Văn trước nói “Nghĩa là nhân vô ngã tự tướng cộng tướng, ngoại đạo tự tha đều vô tánh rồi, quán pháp vô ngã, nghĩa của địa tướng này, lần lượt tăng tiến, đó gọi là quán sát nghĩa thiền”. Văn sau tự nói rõ. Song ở đây nêu lên cả chân lẫn vọng vì ý muốn bỏ tà về chánh vậy.
💥 GIẢI
✅ Đây là giải thích về chánh trí quán sát. Nghĩa là ngoại đạo Nhị thừa vọng chấp các pháp thật có tự tánh nên khởi lên tứ cú. Nay dùng chánh trí quán sát các pháp, vốn không tự tánh. Pháp đã không tự tánh thì tứ cú không chỗ nương, chọn lựa tìm cầu ngoài việc lìa tứ cú trọn không thể được. Vì không thể được nên thấy các pháp vô tánh gọi là Quán sát nghĩa thiền.
💥 GIẢI
Đây dạy người tu nên lìa tứ cú mà quán sát các pháp. Đó gọi là chánh quán. Nếu quán khác gọi là tà quán, nên khuyên tu học.
💥 GIẢI
✅ Đây là tướng của hai thứ giác quán.
Đây nói về ngoại đạo tà trí.
Bởi, ngoại đạo kia không rõ các pháp vô tánh, vọng chấp các pháp thật có tự tánh.
Nên đối với tánh của bốn đại chủng là cứng, ướt, nóng, động, giữ tướng chấp trước, hư vọng phân biệt. Dùng tông, nhân, dụ mà vọng kiến lập. Đó gọi là tà trí thủ tướng phân biệt chấp trước kiến lập. Căn cứ vào tà trí này nên đối với các pháp vọng chấp một khác, có không… tà kiến về tứ cú.
Ý muốn người tu hành bỏ tà kiến này, liền gọi là chánh trí. Thế nên lìa tứ cú tức gọi là quán sát nghĩa thiền. Tông, nhân, dụ đó là ngoại đạo dùng ba chi này để kiến lập quả của họ, vì hiểu sai nên đều không thành tựu rốt ráo.
Nhân Minh Luận đưa ra ba mươi ba lỗi của họ, nên nói Chẳng thật dựng lập mà dựng lập.
Nếu Đại Bồ tát thành tựu hai thứ giác tướng này, sẽ được tướng rốt ráo của nhân pháp vô ngã, khéo biết phương tiện, hành tướng quán sát giác vô sở hữu, được Sơ địa 8.
Nhập trăm tam-muội, được tam-muội sai biệt, thấy trăm đức Phật và trăm Bồ tát, biết sự việc trăm kiếp quá khứ vị lai, ánh sáng soi trăm cõi nước.
Đây nói về tướng quán thành tựu đắc quả. Nghĩa là Đại Bồ tát lập chí liền dùng trí vô tướng thiện xảo để quán các pháp vốn không tự tánh, chóng đoạn hai chấp ngã pháp, bèn ở địa vị giải hạnh liền vào Sơ địa và Như Lai địa rốt sau.
Giải tức thập trụ, hạnh tức thập hạnh. Đây tuy nói giải hạnh, ý ở chỗ không cần trải qua tam hiền, để hiển bày khi vừa phát tâm liền lên địa vị Phật. Hoa Nghiêm nói: “Khi mới phát tâm liền được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, biết tất cả pháp là tự tánh của tâm, thành tựu huệ thân không do ngộ nơi khác”.
Nhập trăm tam-muội… xưa dẫn Nhiếp Luận rằng: “Bồ tát khi vào Sơ địa, chứng được mười loại trăm pháp môn”.
- Một, trong khoảng sát-na chứng trăm tam-ma-đề.
- Hai, dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy trăm cõi Phật.
- Ba, dùng sức thần thông có thể lay động trăm thế giới Phật.
- Bốn, hay ở trăm cõi Phật giáo hóa chúng sanh.
- Năm, hay dùng một thân hóa ra trăm loại thân hình khiến loài hữu tình được thấy.
- Sáu, hay thành tựu trăm loại hữu tình được hóa độ.
- Bảy, nếu vì lợi ích có thể lưu thân trụ thế trăm kiếp. Tám, có thể biết việc của trăm kiếp trước và sau.
- Chín, hay dùng trí huệ vào trăm pháp môn.
- Mười, có thể dùng thân quán sát trăm loại quyến thuộc. Các địa khác tăng sự thù thắng gấp bội lần, trong Hoa Nghiêm nói đủ.
💥 GIẢI
Đây nói hành tướng từ Sơ địa đến tột cùng Như Lai địa.
Khéo buộc tâm trong mười vô tận cú thành thục chúng sanh nghĩa là khéo thuyết pháp, có thể đem một câu quảng diễn vô tận câu, có thể đem một pháp diễn vô tận pháp. Hành tướng của Bồ tát Cửu địa, theo Hoa Nghiêm như thế.
❓❓❓ Hỏi:
Kinh này là pháp môn đốn giáo, những điều nói trên đều hiển bày thẳng đốn ngộ nhất tâm liền lên địa vị Phật. Vì sao trước sau mỗi phen ở chỗ chánh trí hiện tiền hay chỗ quán hạnh thành tựu, đều nêu đủ hành tướng Thập địa, há không rơi vào giai cấp sao?
📣📣📣 Đáp:
Kinh này thánh đế cũng không lập còn có giai cấp gì, bởi ở đây nêu quả để nghiệm nhân. Song, Thập địa cũng gọi là Phật địa, bởi vì chân như bình đẳng vô tướng, là chỗ Phật dạo chơi.
Chúng ta nếu có thể chóng vượt hữu tướng, tâm khế hợp nhất chân, cùng pháp thân dạo khắp, mỗi mỗi ứng hợp an nhiên tự tại nghiệp dụng rộng lớn, không cần theo thứ tự từ địa này đến địa kia. Nêu lên quả thù thắng này, cốt yếu hiển bày nhân chân thật, nếu là tà nhân vô nhân, làm sao đủ sức đến đó. Hơn nữa muốn người tu hành biết việc này để cũng đừng được ít cho là đủ, do hâm mộ tăng tiến thượng thượng, quyết được an trụ tự giác thánh trí tam-muội thù thắng sau rồi mới thôi.
-
Trên giải thích quán sát nghĩa thiền xong.
-
Sau đây giải thích phan duyên như thiền. Ban đầu quán tứ đại như.
L₃ - Giải thích phan duyên như thiền
M₁ - Quán tứ đại như
M₂ - Quán ngũ ấm như
M₃ - Chỉ chánh quán
M₁ - Quán tứ đại như
💥 GIẢI
Đây nói tứ đại vốn tự chẳng sanh, để giải thích phan duyên như thiền. Phan duyên là vọng tưởng. Tứ đại là danh tướng. Bởi vọng tưởng nguyên là chánh trí, danh tướng vốn tự như như.
Do phàm phu không biết ba cõi chỉ do tâm hiện, nên vọng thấy tứ đại và tứ đại sở tạo là thật có, nên vọng chấp đại chủng cho là sanh nhân. Thế là mê chánh trí làm vọng tưởng, biến như như thành danh tướng. Do đó khởi lên phan duyên, tạo ra tứ cú lầm lạc, vì các thứ tà chấp nên nơi như mà chẳng như.
Nay Bồ tát dùng chánh trí quán sát các đại chủng, đương thể vắng lặng, chân thật chẳng sanh. Thấy rõ tất cả danh tướng trong ba cõi, chỉ là vọng tưởng phân biệt do tâm hiện, vốn không có vật nào ngoài tâm.
Khi quán như thế, ắt đại chủng sở tạo thảy đều tánh ly, nếu đại chủng tánh ly, ắt bốn chấp chóng dứt, vật ngã đều không. Như thế thì ngay vọng tưởng là chánh trí, rõ danh tướng vốn như như. Nhất tâm trụ chỗ như thật, vạn pháp thảy đều chẳng sanh.
Bản Đường dịch: “Trụ chỗ như thật, thành tựu tướng vô sanh”. ✅ Đây là lý do quán tứ đại chẳng sanh là phan duyên như thiền. Vì phan duyên tức là Như, chẳng phải phan duyên đến Như vậy.
Nên nói Khéo biết tứ đại tạo sắc… Do thấu rõ tứ đại chẳng sanh, nên nói là khéo biết, ngoại đạo không rõ, nên nói là không khéo biết.
💥 GIẢI
✅ Đây nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, để phá ngoại đạo vọng chấp tứ đại là sanh nhân, để nói rõ về chỗ “Không khéo biết tứ đại tạo sắc, thành nghĩa tướng vọng tưởng nhiếp thọ chấp trước kiến lập giác” ở trước.
Do ngoại đạo kia không hiểu năm uẩn và các pháp đều do tâm hiện, bèn vọng chấp tứ đại chủng cho là sanh nhân hay tạo các pháp. Nên ở đây trách rằng Chỗ họ chấp về tứ đại chủng, làm sao có thể tạo sắc được ư? Chữ “làm sao” cũng như chữ “thế nào” là từ ngữ dùng vừa trách vừa hỏi.
Bởi, ta chỉ nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, chẳng phải từ tứ đại sanh. Thế là vọng tưởng làm tứ đại chủng, chẳng phải tứ đại làm tứ đại chủng. Nhưng vọng tưởng vô tánh, tức tứ đại vốn tự chẳng sanh. Nay hàng phàm phu tà chấp kia hiểu lầm, không những thấy tứ đại sanh, còn thêm vọng chấp tứ đại hay sanh các thứ khác.
Đó là lý do không khéo biết về tứ đại tạo sắc, vọng khởi lên bốn lối chấp, cho nên nơi như mà chẳng như. ✅ Đây là ngôn thuyết của ngu phu, không phải thánh hiền vậy. Vậy nên sau kết luận rằng “Chẳng phải chỗ ta nói”.
Bởi vì kinh này văn xưa mà vắn tắt, ý Phật sâu xa thâm trầm, rất khó thầm thông huyết mạch. Chú thích xưa dẫn chứng Lăng Nghiêm, đoạn nói về thế giới tương tục đối chiếu để giải thích đoạn kinh này. Tuy trên văn từ tạm có căn cứ, kỳ thật nghĩa rất khó hội thông.
Vì sao? Vì đằng kia (Lăng Nghiêm) nói về lý do sanh khởi của thế giới, để nói tình trạng thứ lớp sanh thành lẫn nhau. Nay kinh này chỉ nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, để phá ngoại đạo vọng chấp tứ đại là sanh nhân thôi. Hai kinh tuy lời giống mà nghĩa khác. Nếu chấp vào lời văn rõ ràng của kinh kia, thì trở lại mê lầm ý chỉ của kinh này.
Người đọc cẩn thận chớ ức. đoán, văn sau tự sẽ chứng minh. Câu văn sau thế này “Nghĩa là đất… tứ đại, và những vật được tạo… có duyên của tứ đại, chẳng phải do tứ đại kia làm duyên, mà vọng tưởng là nhân của tứ đại, chẳng phải tứ đại làm nhân cho tứ đại”.
💥 GIẢI
✅ Đây là nương vào văn trên, lặp lại lối chấp của ngoại đạo, để rõ tứ đại không thể tạo sắc sanh; để phá ngoại đạo vọng chấp tức sắc là ngã… tứ cú.
Tà đế là minh đế. Tức Số Luận sư lập ra 25 minh đế, cho là từ thần ngã làm minh sơ chủ đế, từ minh sanh giác, từ giác sanh ngã tâm, từ ngã tâm sanh ngũ trần, từ ngũ trần sanh ngũ đại, từ ngũ đại sanh mười một căn.
Trong câu này chữ Sắc và hư không là chỉ ngũ đại, chữ ngũ ấm là chỉ mười một căn, bởi ngoại đạo vọng chấp ngũ đại sanh ngũ ấm, vì hư không vô hình, chỉ hay hòa với sắc, nên chỉ nói Ngũ ấm nhóm họp từ tứ đại tạo sắc sanh. Chữ chung là hòa hợp.
Lại Thắng luận sư chấp lục cú là sanh nhân. Một là Thật, hai là Đức, ba là Nghiệp, bốn là Đại hữu, năm là Đồng dị, sáu là Hòa hợp. Lại ở trong Thật, chấp có chín pháp. Là ngũ đại, thời, phương, hòa, hợp. Chín pháp này hay sanh ra năm ấm, các pháp.
Nên chấp “Sắc tức là ngã, ngã ở trong sắc…”, bốn lỗi tà kiến. Nay Thế Tôn muốn phá điều ấy, bèn trước đưa ra lối chấp của họ, nói rằng Sắc chung với hư không, đó là chấp trước tà đế, vọng nói ngũ ấm tích tụ do tứ đại tạo sắc sanh.
Văn sau, trước phá sắc chẳng tức ngã, ngã không ở trong sắc… Sau nữa phá tứ đại tạo sắc không thể sanh ra ngũ ấm. Trước phá sắc chẳng tức là ngã, vì ngoại đạo vọng chấp tám thức làm thần ngã, nên đứng về mặt thức để phá đó.
💥 GIẢI
✅ Đây ý phá sắc chẳng tức ngã… bốn lối chấp.
Bởi, ngoại đạo kia vọng chấp tứ đại tạo sắc hay sanh ngũ ấm, nên vọng chấp ngã ở trong sắc, sắc tức là ngã… Phật cho rằng lối chấp thần ngã của họ, tức là Thức trong pháp ta. Nếu nói sắc tức là ngã, thì khi người chết, tứ đại sắc diệt mà thức chẳng diệt, vì thức này nhân yêu mến tham trước cảnh giới lục trần nên tạo nghiệp thiện ác, lại chiêu cảm quả báo vị lai, trở lại thọ sanh các nẻo, tiếp nối không dứt.
Nếu quả nhiên sắc tức là thức, thì khi sắc kia diệt, thức cũng cùng với sắc chung diệt, há chẳng phải đoạn diệt ư? Nay đã thọ sanh tiếp nối qua các loài, thì đủ biết thức chẳng diệt, thế thì sắc chẳng phải tức ngã, điều đó rõ ràng. Chẳng những sắc chẳng tức ngã mà tứ đại tạo sắc không thể sanh ngũ uẩn, nên văn sau phá luôn.
💥 GIẢI
✅ Đây nói tứ đại không thể tạo sắc.
Do ngoại đạo chấp tứ đại là năng tạo, các pháp năm uẩn là vật được tạo (sở tạo), là tứ đại làm sanh duyên cho tứ đại. Duyên tức là nhân. Nên Phật lập lại lối chấp ấy mà phá đó, nói rằng: Tứ đại và năm uẩn sở tạo… sắc pháp tự có tứ đại để làm nhân, đó chỉ là vọng chấp. Không phải tứ đại kia cùng năm ấm làm nhân. Vì sao? Vì tứ đại kia không thể tạo sắc, sanh ra năm uẩn. Văn sau nêu phá.
💥 GIẢI
✅ Đây nêu lý do phá tứ đại chẳng thể tạo năm ấm.
Tánh là tự thể của tứ đại. Hình, tướng, xứ là các pháp trên có những hình trạng dài, ngắn, cao, thấp, lớn, nhỏ… Phương tiện tức là phương pháp tạo tác. Do ở trước, Phật nói tứ đại không thể tạo sắc, nên ở đây đưa lý do để phá. Nói rằng tại sao không thể tạo sắc? Do tìm cầu tự thể, hình tướng của tứ đại năng tạo và phương tiện tạo tác, đều chẳng thể được, vì không tự tánh.
Đã không tự tánh thì đại chủng vốn tự chẳng sanh, vốn tự vô sanh há lại có thể sanh ra các pháp ư? Thế là chấp tứ đại hay tạo sắc là hư vọng. Nếu nói rằng năm uẩn, các pháp được tạo từ tứ đại sanh, điều này cũng không thành. Vì sao? Vì đại chủng năng tạo là vật có thể tướng hình trạng, nay vật năng tạo đã có hình tướng, thì năm uẩn được tạo đáng lẽ cũng phải có hình, chẳng phải vô hình.
Ý nói rằng, dù chấp nhận tứ đại có thể tạo năm uẩn, thì trong năm uẩn được tạo ấy, chỉ một sắc uẩn là có hình tướng, còn bốn uẩn kia vô hình, bốn uẩn ấy đâu phải vật được tạo? Thế là chấp sở tạo cũng là hư vọng. Ngoại đạo chấp sắc tức là ngã, khi sắc diệt mà thức không diệt, đủ biết năm ấm chẳng phải do tứ đại tạo.
Nay quán tứ đại vốn không thể tạo sắc, cho nên lối chấp tứ đại tạo sắc tướng ấy, là kiến chấp điên đảo vọng tưởng phân biệt của ngoại đạo, chẳng phải chỗ ta nói. Nên nói chẳng phải ta Do ở trên Phật nói tứ đại có hình không thể tạo vô hình, nên văn sau giải thích, để cho rõ phép quán năm ấm Như.
M₂ - Quán ngũ ấm như
💥 GIẢI
Phật nói có hình không thể tạo ra vô hình, nên nói tướng tự tánh của năm ấm, để cho rõ 4 ấm chẳng phải là sắc được tạo, sắp hiển năm ấm vốn Như vậy.
💥 GIẢI
✅ Đây giải thích về bốn ấm vô hình, chẳng phải là sắc được tạo.
Tứ đại, là tứ đại bên ngoài. Tạo sắc, là tứ đại bên trong. Nghĩa là trong năm ấm, sắc là một ấm, có thể cho rằng do tứ đại tạo, vì bốn pháp cứng, ướt, nóng, động mỗi mỗi khác nhau về hình tướng, là có hình. Vì thế không thể so sánh với bốn ấm không sắc chất như hư không.
Đến như thọ… bốn ấm không có hình tướng cũng như hư không, chỉ do vọng tưởng danh ngôn nói là bốn ấm. Cũng như hư không vượt khỏi số lượng chỉ vì phân biệt mà nói một hư không thôi. Há lại có hư không vô hình mà thuộc về bốn đại sở tạo ư? Thế là vọng chấp tứ đại hay tạo năm ấm đều là tà kiến vậy.
💥 GIẢI
✅ Đây giải thích chung năm ấm đều là không.
Ấm như thế là chỉ chung năm ấm. Tánh là sắc ấm. Phi tánh là bốn ấm. Nghĩa là chẳng những bốn ấm như hư không, mà sắc ấm tìm cầu mỗi mỗi không tự tánh, đại chủng chẳng sanh mà sắc vốn không. Thế thì năm ấm đều không, vượt quá tướng số lượng, há lại có thể dùng số năm để tính đếm ư?
Cho nên nói Các ấm như thế vượt quá tướng số lượng, lìa khỏi số lượng. Bởi đã vượt quá danh số thì năm ấm vốn không, năm ấm đã không, thì lìa tánh phi tánh vậy. Lìa tánh, thì sắc không thể nói là có. Lìa phi tánh, thì bốn ấm kia bất tất nói là không.
Thế là có không đã lìa, tứ cú dựa vào đâu an lập? Nên nói Lìa tánh phi tánh, lìa tứ cú.
Song tứ cú đã ly thì bách phi đều dứt, đường danh ngôn dứt thì ấm vốn như như.
Lại há có thể dùng tướng số lượng để tìm cầu ư? Thế nên chấp có tướng số lượng là ngôn thuyết của ngu phu, không phải sức thấy biết chân thật của thánh hiền.
Ngài Vĩnh Gia nói: “Tất cả số câu chẳng số câu, cùng tánh linh ta nào quan hệ”. Thật là chứng sâu chỗ này!
💥 GIẢI
✅ Đây giải thích hàng phục nạn vấn để rõ năm ấm vốn Như.
Do ở trên Phật nói năm ấm đều không, e người ngu nghi rằng: Hiện thấy thánh phàm đều có năm ấm. Vì sao nói không? Nên đây giải thích rằng: Ta nói năm ấm đều không, chẳng phải là tuyệt đối không, chỉ là cái nhìn của bậc thánh trí thấy như huyễn chẳng thật. Đó là rõ thấu duyên sanh vô tánh, thể ấy toàn không, chỉ không khởi lên những vọng kiến lập bày về một, khác…, mà không phải tuyệt nhiên diệt mất, không có mặt. Bởi năm ấm này, là bóng sáng của pháp thân, như thân trong mộng, như bóng trong gương, không có cái riêng khác, nên nói chẳng khác chẳng không khác.
Thế nên ta nói năm ấm vốn Như, người ngu không biết điều này, bèn vọng khởi kiến chấp phân biệt là một là khác.
Ngài Vĩnh Gia nói “Huyền hóa không thân là pháp thân”. Thế thì năm ấm đương thể là pháp thân.
Khi vọng tưởng về năm ấm hiện, pháp thân cùng hiện, chỉ tùy theo chỗ thấy của thánh phàm không đồng nhau thôi. Nếu dùng vọng tưởng phân biệt thì pháp thân ẩn mà năm ấm hiện.
Nếu dùng thánh trí quán thì pháp thân hiện mà năm ấm mất. Nên văn trước nói “Bởi hoặc loạn ấy, chư thánh cũng hiện, mà chẳng điên đảo”. Nên nói Chỗ thú hướng của thánh trí đồng với vọng tưởng ấm hiện.
Kỳ thật vọng tưởng vốn như, hay quán sát được như thế, gọi là phan duyên như thiền. Văn sau kết luận rằng.
M₃ - Chỉ chánh quán
💥 GIẢI
Kết luận này gọi là “Lìa lỗi”Bởi chưa đạt năm ấm vốn Như, nên vọng khởi kiến chấp sanh diệt một khác, pháp được nói ra đều là pháp sanh diệt.
Nên đây kết luận rằng: Năm ấm không tịch như thế, các ông nên diệt trừ kiến chấp tướng tự tánh.
Diệt kiến chấp sanh này liền chứng vô sanh, có thuyết pháp đều là pháp tịch diệt, lại đem chỗ chứng này, đoạn trừ tất cả tà kiến ngoại đạo.
💥 GIẢI
Đây kết về tướng hạnh thành đắc quả của Phan duyên như thiền.
Phần trước nói về quán hạnh thành tựu của Quán sát nghĩa thiền, nghĩa là từ phàm phu vào địa vị giải hạnh, tức chứng Sơ địa, quán sát lần lượt vào đến địa vị thượng thượng. Do chóng thấy chân lý đoạn dần vô minh nên nói “đốn ngộ tiệm tu” là đây vậy. Nay quán hạnh của Phan duyên như thiền thành tựu, liền lên Bát địa, liền chứng vô sanh, liền đoạn vô minh, liền xả tạng thức, nên nói “đốn ngộ đốn tu” là như vậy.
Về trước, ba môn thiền là hành tướng của Tam thừa, thiền Nhị thừa cố nhiên bị quở trách, hai môn thiền sau tuy thù thắng hơn, vẫn còn thuộc nhân quả mê ngộ. Nên kệ nói “Các thừa chẳng rốt ráo”.
Vì sao? Vì trong tông môn, rõ ràng thân chứng chân như cũng coi là việc bên mé pháp thân, chẳng phải là việc hướng thượng.
Đến Như Lai thanh tịnh thiền thì không thuộc nhân quả, nên là Nhất thừa tối thượng, là tông thú của kinh này.
Sở dĩ chỉ nói về ba môn thiền trước mà thôi, tức là nói về hai quả tà chánh. Còn Như Lai thiền thì không cho nói năng, ý muốn chúng ta thầm hiểu chỗ biểu hiện không lời.
Đến sau, Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh, Thế Tôn chỉ nói: “Chỗ hiểu của các bậc thánh trước lần lượt truyền trao cho nhau, là vọng tưởng vô tánh”.
Một lời mà thôi. Đây là chỉ thẳng từ trước Phật tổ truyền tâm ấn, là bí quyết của thiền tông, ý muốn hiển bày tông thú của kinh này.
Người xem nên quán sát kỹ.
-
Từ trước đã giải thích nhân hạnh tà chánh không đồng.
-
Sau đây giải thích về quả đức tà chánh không đồng. Trước nêu lên quả tà.
K₂ - Rộng biện về nhân quả không đồng
L₁ - Nêu lên quả tà
L₂ - Nêu lên quả chánh
L₁ - Nêu lên quả tà
💥 GIẢI
Đây là biện luận về quả đức chẳng đồng. Đầu tiên nêu quả tà. Do ở trước Phật nói nhân hạnh đã có chân ngụy nên quả chiêu cảm cũng có tà chánh. Vì vậy ở đây trước nói bốn thứ Niết-bàn để hiển bày nhân hạnh không chân thật của ngoại đạo nhị thừa.
-
Tánh tự tánh phi tánh Niết-bàn, là Số Luận sư, vọng lập thần ngã cho là chủ đế, thật có tự thể. Vì đây không phải cứu cánh Niết-bàn, nên Phật tùy tiện mà chiết phục, nói rằng “Chỗ chấp tự tánh của họ, kỳ thật chẳng phải tánh, chỉ là vọng chấp thôi”. Nên nói Tánh tự tánh phi tánh Niết-bàn.
-
Các thứ tướng tánh phi tánh Niết-bàn, là ngoại đạo vọng chấp trời Sắc cứu cánh cho đó là Niết-bàn. Nghĩa là tột cõi hư không mười hai loài sanh, đều là một loại trong thân ta phát ra. Lại có phái ngoại đạo chấp trời Đại tự tại là Niết-bàn nói rằng: Chính thân tâm mình và mười phương hư không, đều từ trời Đại tự tại phát xuất.
Còn Thuận thế ngoại đạo chấp tứ đại là thật là thường, hay sanh các pháp, nên tìm cầu lửa sáng tỏ, thích nước trong sạch, yêu gió châu lưu, xem bụi kết thành, mỗi mỗi theo đó cho là thường trụ. Vì họ chấp các thứ tướng ấy thật có tự tánh, nên Phật chiết phục rằng “Chỗ chấp của họ, kỳ thật chẳng phải tánh, chỉ là vọng chấp thôi”. Nên nói Các thứ tướng tánh phi tánh Niết-bàn.
- Tự tướng tự tánh phi tánh giác Niết-bàn, là Thắng Luận sư, chấp tất cả vô tình hữu tri thành lập lục cú nghĩa là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Đồng dị, Hòa hợp. Lấy cực vi làm thường trú nên cho cây cỏ trong mười phương đều xưng là hữu vi, không khác người. Cây cỏ làm người, người chết trở lại làm cây cỏ. Bản Đường dịch: Giác tự tướng, cũng nói vi trần tự tướng có tri giác.
Nên Phật chiết phục đó, nói rằng “Tự tướng tự tánh ấy, vốn không tự tánh, cũng chẳng có giác, chỉ là vọng chấp thôi”, nên nói Tự tướng tự tánh phi tánh giác Niết-bàn. 4. Các ấm tự cộng tướng tương tục lưu chú đoạn đoạn dứt Niết-bàn. Nghĩa là người ở cõi trời Vô tưởng, dùng cái diệt mất vĩnh viễn, y cứ vào đó cho là chỗ trở về. Thêm nữa, hàng định tánh Thanh văn, chứng Diệt đế rồi, ở trong Diệt đế ngưng dứt, lại không tiến tới trước.
Kế là hàng định tánh Bích chi, và các hàng Duyên giác không hồi tâm, quán các biến hóa biết là không, duyên nơi ly bèn chứng diệt, chấp các ấm đã diệt, không thọ thân sau, vĩnh viễn đoạn then chốt tái sanh, chấp đó cho là Niết-bàn. Nên nói Các ấm tự cộng tướng tương tục lưu chú đoạn Niết-bàn. Bốn thứ này đều là ngoại đạo tự chấp cho là Niết-bàn. Nên nói Chẳng phải ta nói. Bởi vì Nhị thừa không đạt tự tâm, ngoài tâm chấp có pháp nên cũng xếp vào ngoại đạo.
- Sau đây nêu lên quả chánh.
L₂ - Nêu lên quả chánh
💥 GIẢI
Đây trình bày Niết-bàn do Phật nói là quả chánh.
Bởi Niết-bàn do ngoại đạo kia chấp giữ đều là vọng tưởng thức mà thôi.
Phật dạy rằng: Niết-bàn của ta nói đó, chẳng có riêng thể khác, ngay nơi vọng tưởng thức ấy vắng lặng, ngay đó liền là Niết-bàn, chẳng phải lìa ngoài đây riêng có Niết-bàn có thể chứng. Nên nói: Vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn.
❓❓❓ Hỏi:
Đoạn trước, ban đầu nói chứng cảnh giới tự giác chuyển tạng thức sở y làm đại Niết-bàn, kế đến lại nói tất cả thức tự tánh tập khí, tạng thức ý thức kiến lập chuyển rồi, ta và các đức Phật gọi là Niết-bàn.
Đến đây chỉ nói vọng tưởng thức diệt gọi là Niết-bàn, là sao?
📣📣📣 Đáp:
Ba lối nói trên đây ý chỉ không giống, không thể cho rằng Phật nói về Niết-bàn có sai biệt.
Câu ban đầu là trách Nhị thừa do không biết chỗ chứng cảnh giới tự trí, chuyển tạng thức sở y làm đại Niết-bàn, nên vọng chấp cảnh giới căn diệt đời vị lai cho đó là quả Niết-bàn.
Song đưa ra câu: “Đại Niết-bàn”, ý ở chỗ trách kia không biết, chẳng phải chính nói về Niết-bàn.
Câu kế là để so sánh nhân quả tà chánh không đồng.
Ý nói rằng ngoại đạo Nhị thừa vì căn cứ vào có không, đoạn thường… tứ cú, dùng thiền ngu phu làm nhân tu, nên quả chứng cũng chẳng phải cứu cánh.
Ta dùng pháp ly tứ cú, tu hành quán sát nghĩa thiền, phan duyên như thiền, nên chuyển sanh tử thành Niết-bàn, nên nói: “Tất cả thức tự tánh tập khí, tạng thức ý thức kiến lập chuyển rồi, ta và chư Phật gọi là Niết-bàn”.
Nghĩa là không đồng với ngoại đạo dùng tập khí vọng kiến làm Niết-bàn.
Đến phần thứ ba này là giải thích lý do chẳng đồng ở trước, chính là nêu lên hành tướng của Niết-bàn, để hiển bày tông thú của kinh này. Nên chỉ nói Vọng tưởng thức diệt là Niết-bàn. Còn nói: “Ngay vọng tưởng vắng lặng tức là Niết-bàn, lại không đợi chuyển”, là sao? Vì vọng tưởng vô tánh, nên tức liền khi tập khí kiến chấp ngoại đạo Nhị thừa chấm dứt, đó là Niết-bàn, không cần tìm cầu riêng, vì đương thể là vô sanh, lại chuyển cái gì? Đây chính là nhất thừa tối thượng, thật là tông thú của kinh này. Nên, văn sau nói: “Thức thứ Bảy chẳng sanh”, vì lập ý chẳng đồng nên ngôn từ cũng khác. Bởi vọng tưởng này, tức là đệ lục ý thức, nên kế đây biện luận cho rõ.
💥 GIẢI
Đây hỏi để rõ nghĩa đệ bát thức xưa nay là Niết-bàn.
Do trước Phật nói: Chuyển tập khí vọng kiến tạng thức làm Niết-bàn. Bởi tạng thức là thức thứ tám, kiến tập là thức thứ bảy.
Nay đây chỉ nói thức thứ sáu diệt là Niết-bàn, nên nghi mà hỏi rằng: Không kiến lập thức thứ tám sao?
Phật đáp: Có kiến lập.
Lại hỏi tiếp: Đã kiến lập, thì thức thứ bảy là cội gốc của sanh tử, tại sao chỉ nói thức thứ sáu diệt là Niết-bàn, mà không nói thức thứ bảy?
Phật nói: Thức thứ tám là Như Lai tạng thanh tịnh chân tâm xưa nay vắng lặng, còn thức thứ bảy không thể tướng, vốn tự vô sanh.
Chỉ có thức thứ sáu y vào thức thứ tám mà khởi phan duyên, thức thứ tám nhân bị thức thứ sáu phan duyên mà có sanh diệt, thế nên nói Vì thức thứ sáu làm nhân và phan duyên.
Nay ý thức nếu vắng lặng, thì thức thứ bảy chẳng sanh, mà thức thứ tám ngay đó nguyên là thanh tịnh Niết-bàn, đâu cần đợi chuyển rồi sao mới là Niết-bàn ư?
💥 GIẢI
Đây giải thích nghĩa “Thức thứ bảy chẳng sanh” ở trên.
Đường dịch: “Khi ý thức phân biệt cảnh giới khởi chấp trước, sanh các tập khí, nuôi lớn Tạng thức.
Do đây ý câu là thức tư lương chấp ngã ngã sở theo đó chuyển, không có thể tướng riêng”.
Nghĩa là thức thứ bảy sở dĩ chẳng sanh, vì không có thể tướng.
Chỉ nhân khi ý thức phan duyên theo cảnh giới năm trần, sanh khởi tập khí huân vào tạng thức.
Tạng thức chịu huân tập, do sức tập khí ánh hiện ra căn thân và thế gian, rồi vọng thấy bóng ảnh của căn thân và thế gian này, bèn chấp làm ngã ngã sở, gọi tên là Thức thứ bảy, nên nói Ý câu.
Thế thì thức thứ bảy tư lương, chỉ tùy theo thức thứ sáu bên ngoài và thức thứ tám bên trong chuyển biến, nó là bóng sáng ánh hiện của thức thứ tám như quầng sáng của đèn, không có thể riêng, tuy có tên mà không có thực chất.
Vì chỉ là một tinh chân nên nói là không hoại thân tướng.
💥 GIẢI
Đây nói Tạng thức nguyên là trí thể bất động, chỉ nhân thức thứ sáu phan duyên cảnh giới tự tâm, các thức làm nhân lẫn nhau mà sanh, nên được tên là Tạng thức.
Do ý thức một phen khởi thì các thức cùng khởi, nên nói Các nhóm tâm sanh. Bởi vì thức thứ 8 lặng sâu vốn không sanh diệt, chỉ nhân thức thứ 6 phan duyên mà có sanh diệt. Thức thứ 7 nhân thức thứ 8 mà khởi chấp trước. Thức thứ 6 nhân thức thứ 7 mà khởi phân biệt.
Năm thức trước nhân thức thứ 6 mà soi cảnh, thức thứ 6 lại nhân nơi 5 thức trước mà phan duyên, thức thứ 7 lại nhân thức thứ 6 mà tăng trưởng kiến tập. Thức thứ tám lại nhân cái chấp ngã nhiễm ô của thức thứ 7 mà không được giải thoát. Nên nói Lần lượt làm nhân cho nhau. Thế là, sanh thì từ thức thứ sáu cùng làm nhân với nhau mà sanh, diệt thì thức thứ sáu diệt mà các thức cùng diệt. Đây chính là “Một căn đã trở về nguồn, sáu căn đều giải thoát” (kinh Lăng Nghiêm).
Thí như sóng biển, bị gió cảnh giới tự tâm hiện thổi động, hoặc sanh hoặc diệt cũng như thế. Cho nên ý thức diệt, thức thứ bảy cũng diệt.
Đây dùng thí dụ để hiển bày thức thứ bảy vốn bất sanh.
Biển dụ cho tạng thức, sóng dụ cho thức thứ bảy, cảnh giới như gió.
Nghĩa là biển tạng thức lặng sâu, vốn không có sóng mồi thức thứ bảy, chỉ tự ý thức phan duyên theo gió cảnh giới lục trần dấy động, nên có khởi diệt. Nay nếu ý thức không khởi, gió cảnh giới dừng, thì thức thứ bảy ngay đó vắng lặng. Thế là sanh chỉ là nhân duyên sanh, diệt chỉ là nhân duyên diệt, chẳng phải thức thứ bảy (sanh diệt), nên nói thức thứ bảy bất sanh.
💥 GIẢI
Đây tụng chung Niết-bàn của ngoại đạo chẳng phải nghĩa ta nói.
Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp Niết-bàn thật có tự tánh, và có tướng bị tạo tác. Phật nói ta không chủ trương như vậy.
Ta nói rằng: “Chỉ do vọng tưởng, sở tri, thức diệt gọi là Niết-bàn”.
Nhân đó, phan duyên đó Ý hướng tới… thành thân Cùng nhân ấy là tâm Làm chỗ nương cho thức.
Đây là tụng thức thứ bảy bất sanh.
Nghĩa là tạng thức kia, nhân có ý thức phan duyên nên có bảy thức thân sanh.
Bởi làm nhân cho ý là Tạng thức tâm vương, chẳng phải thức thứ 7, nên nói Cùng nhân ấy là tâm, vì tạng thức là chỗ nương cho các thức.
Thế thì cái sanh diệt của tạng thức, cái biết cảnh của tiền ngũ thức và cái giả danh của thức thứ bảy, thảy đều nhân nơi ý thức mà có. Nên nếu ý thức diệt, thì các thức ngay đó chẳng sanh. Vì vậy sau đây dùng dụ để lập thành.
💥 GIẢI
Đây dùng thí dụ để kết thành.
❓❓❓ Hỏi:
Các kinh đều nói thức thứ bảy là ý căn, là then chốt của sanh diệt.
Nay nói thức thứ bảy bất sanh, chỉ nói ý thức diệt tức là Niết-bàn, là sao?
📣📣📣 Đáp:
Đây chỉ thẳng yếu chỉ đốn ngộ vô sanh là bí quyết tu tâm của thiền tông.
Nếu bảo rằng nhất định có thức thứ bảy là ý căn, thì tiếp nối trường kiếp, làm sao có thể do một niệm mà đốn chứng vô sanh ư? Nay rõ được thức thứ bảy bất sanh, thì ý thức thoát thể không chỗ nương. Ý thức không chỗ nương thì vọng tưởng vô tánh, ngay đó vắng lặng. Vọng tưởng vắng lặng thì tất cả tâm cảnh trong ngoài đều vắng lặng. Kinh Tịnh Danh nói: “Tất cả chúng sanh xưa nay Niết-bàn, không cần lại diệt”, là chỗ này. Nên nói Như thế ý thức diệt, các thứ thức chẳng sanh.
Đây thật là cảnh giới tự giác thánh trí, há hàng ngoại đạo tà kiến, hàng tam thừa trí nhỏ có thể vào ư? Nên cổ đức nói “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn trần, bày thể chân thường, không nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức Phật như như”.
-
Trên đã giải thích rộng ba môn thiền trước để hiển bày tướng nhân quả sai khác của ba thừa.
-
Tiếp theo sau giải thích rộng Như Lai thiền dung hội năm pháp, tự tánh thảy đều trở về Như như để hiển tướng nhân quả bình đẳng của nhất thừa, có 3 phần.
⏯️
NGUỒN
GHI CHÚ
GHI CHÚ SƠ ĐỒ
- 88 kiết sử (Theo luận Câu Xá):
Phiền não có 2: Kiến hoặc và tu hoặc [Mê lầm trên lý (nhận thức -> kiến hoặc) và mê lầm trên sự (hành động -> tư hay tu hoặc). Kiến hoặc: Đốn đoạn, tu hoặc: Tiệm đoạn].
Căn bản là 10 thứ: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, giới cấm thủ kiến, kiến thủ kiến, tham, sân, si, mạn, nghi.
Con số 88 được chia như sau (Trong 3 cõi và tứ đế):
- Dục giới:
- Khổ đế: 10 (đủ cả)
- Tập đế: 7 (trừ thân, biên, giới cấm thủ)
- Diệt đế: 7 (như tập đế)
- Đạo đế: 8 (trừ thân kiến, biên kiến)
- 32 hoặc cõi dục
-
Sắc giới: ~ Dục giới, nhưng mỗi đế đều trừ sân, 32-4=28 hoặc,
-
Vô sắc giới: ~ Sắc giới: 28 hoặc, (vì 2 cõi này không có sân)
Cộng 3 cõi là 88 hoặc hay 88 kiết sử.
- 81 Tư hoặc:
Cũng 10 hoặc trên, nhưng chia ra tùy tánh chất mê lầm nặng nhẹ gọi là thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm.
Thanh văn chia 10 hoặc ra làm 9 phẩm trong 9 địa (cửu địa)
- Dục giới: Ngũ thú tạp cư : 1 địa
- Sắc giới: Tứ thiền : 4 địa
- Vô sắc giới: Tứ không : 4 địa
Tổng cộng: 9 địa. Mỗi địa, mỗi hoặc sẽ chia ra 9 phẩm. Cộng là 9 phẩm x 9 địa = 81 phẩm Tư hoặc
GHI CHÚ
Phiền não có hai thứ: Phân biệt khởi và Câu sanh khởi. Theo thầy tà, giáo lý tà, suy nghĩ tà nên khởi phiền não gọi là phân biệt khởi. Tập quen thành tánh, tự nhiên khởi lên gọi là câu sanh. Trong tám thức, ý thức là chủ động của hai thứ này.
Phiền não do phân biệt khởi tạo nghiệp thiện ác.
Phiền não do câu sanh khởi làm đậm, thấm nhuần thêm nghiệp chủng khiến thọ sanh nên gọi nhuận sanh.
Phiền não câu sanh trong ba cõi chín địa (tức tu hoặc) mỗi cái đều có chín phẩm. Trong đó tu hoặc của chín phẩm Dục giới, có tác dụng của nhuận thất sanh, nhân đó lập ra hai quả Nhất lai và Bất hoàn.
Footnotes
-
¹ Bốn uẩn không sắc chất: Thọ, tưởng, hành, thức. ↩
- ↩
-
¹ Đường dịch: Tham có nhiều thứ, bỏ những thứ tham nào? ↩
-
¹ Ngụy dịch: Được tịch diệt chắc chắn. Đường dịch: Một bề hướng về diệt. ↩
-
² Đường dịch: Do Phật biến hóa. ↩
-
¹ Đường dịch: Thiền giả, thiền được duyên Đoạn hoặc, thấy chân đế. ↩
-
¹ Đường dịch: Cho nên nói tất cả pháp lìa. ↩
-
¹ Đường dịch: Biết tướng trí này, liền có thể thông đạt Nhân Pháp vô ngã, áp dụng trí vô tướng nơi hạnh giải, khéo quán sát vào được Sơ địa. ↩
-
¹ Đường dịch: Quán các đại chủng ấy chân thật chẳng sanh, vì ba cõi chỉ là sự phân biệt do tâm hiện, không có vật ngoài tâm. ↩
-
¹ Đường dịch: Mãnh liệt. ↩