Lăng Già Bút Ký - Tập 1 - Phần 7


⏯️ (tiếp theo)

Phần một Tức vọng tức chân để hiển bình đẳng.

I₂ - Giải thích Như Lai thiền dung hội năm pháp vọng tưởng như như để hiển tướng nhân quả bình đẳng. Có 3:

K₁ - Tức vọng tức chân để hiển nhân bình đẳng

K₂ - Tức tâm tức cảnh để hiển quả bình đẳng

K₃ - Tức quyền tức thật để hiển pháp bình đẳng


K₁ - Tức vọng tức chân để hiển nhân bình đẳng

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Nay sẽ nói về tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt, nếu khéo phân biệt về tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt, ông và các Đại Bồ tát khác sẽ lìa vọng tưởng, đến tự giác thánh, khéo thấy đường hướng của ngoại đạo, giác ngộ về vọng tưởng nhiếp sở nhiếp, đoạn dứt vọng tưởng duyên khởi các thứ tướng tự tánh hành, không vọng tưởng trở lại.

💥 GIẢI

Đây là ngay nơi vọng tưởng sai biệt để chỉ ra hành tướng bình đẳng.

Nhân ở trước Phật đã nói vọng tưởng là cội gốc sanh tử Niết-bàn của mười cõi, năm tánh, ba thừa.

Sợ người tu không biết những gì là vọng tưởng, nên đây đặc biệt nêu lên tướng kia, muốn khiến cho người tu ngay nơi vọng tưởng liền chứng Như như.

Bởi, vọng tưởng tuy là tên chung, kỳ thật có nhiều thứ sai biệt không đồng. Nếu không biết rành tướng của nó, e rằng sẽ nhận vọng làm chân, nên Lăng Nghiêm nói: “Ví như quốc vương bị giặc xâm lấn, phát binh trừ giặc, binh đội đó cần yếu phải biết chỗ của giặc”. Đường dịch: Nay ta sẽ nói về tướng sai biệt của vọng tưởng tự tánh, khiến ông và các Đại Bồ tát khéo biết nghĩa này, vượt qua vọng tưởng, chứng cảnh giới thánh, biết pháp ngoại đạo, xa lìa về năng thủ sở thủ, nơi các tướng y tha lại không chấp nhận tướng chấp trước hư vọng.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thế nào là tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt? 1

Nghĩa là ngôn thuyết vọng tưởng, sở thuyết sự vọng tưởng, tướng vọng tưởng, lợi vọng tưởng, tự tánh vọng tưởng, nhân vọng tưởng, kiến vọng tưởng, thành vọng tưởng, sanh vọng tưởng, bất sanh vọng tưởng, tương tục vọng tưởng, phược bất phược vọng tưởng. Đó gọi là tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt.

💥 GIẢI

Đây nêu tướng sai biệt của vọng tưởng.

Ở trước nói chuyển tất cả tự tánh tập khí tạng, ý, ý thức, kiến tập làm Niết-bàn, nên theo đó nói đến hai thứ tướng tự tánh, là ngôn thuyết tự tánh tướng chấp trước, và sự tự tánh tướng chấp trước. Đây là nêu lên chỗ đáng chuyển.

Ngôn thuyết tự tánh tướng chấp trước, là do tập khí từ vô thủy sanh chấp trước hư ngụy về ngôn thuyết, chính là danh. Sự tự tánh tướng chấp trước là từ bất giác tự tâm hiện chừng ngần sanh chấp trước, chính là tướng. Vì vọng tưởng nhân danh, tướng mà sanh, hai cái này là tướng chung của vọng tưởng.

Nay liệt kê mười hai loại vọng tưởng, cũng không ngoài hai thứ nêu trên đây, chỉ là nói rộng tướng ấy, đó cũng là những tướng sai biệt của hai thứ vọng tưởng trên mà thôi. Bởi vọng tưởng nhân danh, tướng bên ngoài mà có, đó gọi là duyên khởi. Nay hiển bày vọng tưởng vô tánh, vốn tự viên thành, thì danh, tướng kia tự như như, nên nói là tướng chung. Vì thế phần này gọi là chân vọng bình đẳng.

⚡️ KINH

1- Đại Huệ! Thế nào là ngôn thuyết vọng tưởng? Nghĩa là chấp trước những âm thanh ca vịnh vi diệu hay ho đáng yêu, đó gọi là ngôn thuyết vọng tưởng.

💥 GIẢI

Đây là chấp về âm thanh ngôn ngữ của thế tục, và những câu thơ ca vịnh, cho là thật có tự tánh.

⚡️ KINH

2- Đại Huệ! Thế nào là sở thuyết sự vọng tưởng? Nghĩa là có những việc được nói ra là chỗ biết của thánh trí, y cứ vào đó mà sanh ngôn thuyết vọng tưởng. Đó gọi là sở thuyết sự vọng tưởng 2.

💥 GIẢI

Đây là chấp về thánh ngôn lượng xuất thế, cho là thật có cảnh giới tự chứng được nói, căn cứ vào đó vọng khởi phân biệt.

Nghĩa là đối với những pháp xuất thế Phật nói ra như Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như, Phật tánh, Đệ nhất nghĩa đế, Thánh trí tự chứng… cho là thật có tự tánh, y cứ vào đó lại khởi lên các thứ ngôn thuyết phân biệt, lấy đó làm thật pháp. Bản Đường dịch “Nghĩa là chấp có những việc được nói, như cảnh giới thánh trí tự chứng, y cứ vào đó khởi phân biệt”.

3- Đại Huệ! Thế nào tướng vọng tưởng? Nghĩa là ngay nơi sự việc đã nói, như nai khát tưởng nước, chấp trước các thứ mà chấp trước, nghĩa là tướng cứng, ướt, nóng, động, vọng tưởng về tất cả tánh. Đó gọi là tướng vọng tưởng.

Đây là kết hợp hai vọng tưởng trên mà nói.

Do đối với những điều Phật nói về pháp xuất thế, chấp cho là thật, vọng có sở đắc, nên nói Đối với sự việc đã nói, như nai khát tưởng nước. Lại đối với trong pháp thế đế được nói, như các pháp căn, trần, tứ đại… chấp trước thật có tự tánh, nên nói Chấp trước các thứ mà chấp trước… Ba loại vọng tưởng trên đây là chấp trước về tự tánh của ngôn thuyết.

4- Đại Huệ! Thế nào là lợi vọng tưởng? Nghĩa là ưa thích các thứ vàng, bạc, châu báu. Đó gọi là lợi vọng tưởng.

Bảy thứ vọng tưởng sau đây, là vọng tưởng chấp trước về sự tự tánh (tự tánh của sự vật).

Đối với các thứ tài sản bảo vật không biết được nó là tánh không, nên nói lợi vọng tưởng (vọng tưởng về điều lợi).

5- Đại Huệ! Thế nào là tự tánh vọng tưởng? Nghĩa là chấp giữ tự tánh như vậy, là y như vậy không đổi khác, vọng tưởng ác kiến. Đó gọi là tự tánh vọng tưởng.

Đây là vọng chấp các pháp ở thế gian, mỗi mỗi đều có tánh chất riêng, chấp vào đó cho là quyết định như vậy, không thể khác hơn. Cũng tức là ngoại đạo chấp bốn đại chủng mỗi thứ có tự tánh hay sanh muôn vật, nên nói vọng tưởng ác kiến.

6- Đại Huệ! Thế nào là nhân vọng tưởng? Nghĩa là hoặc nhân hoặc duyên, phân biệt là có không, nhân tướng sanh, đó gọi là nhân vọng tưởng.

Đây là ngoại đạo vọng chấp các pháp, cái có từ nhân có sanh ra, cái không từ nhân không sanh, Đường dịch “Nghĩa là đối với nhân duyên phân biệt là có, hay không có, dùng nhân tướng có không này mà sanh các pháp, nên gọi là nhân vọng tưởng”.

7- Đại Huệ! Thế nào là kiến vọng tưởng? Nghĩa là những ác kiến về có không, một khác, chung chẳng chung, vọng tưởng của ngoại đạo là vọng tưởng chấp trước. Đó gọi là kiến vọng tưởng.

Đây là ngoại đạo y cứ vào có không… khởi lên kiến chấp về tứ cú, nên nói kiến vọng tưởng.

8- Đại Huệ! Thế nào là thành vọng tưởng? Nghĩa là tưởng về ngã và ngã sở, thành lập luận chấp quyết định. Đó gọi là thành vọng tưởng.

Đây là ngoại đạo vọng chấp tức nơi sắc là ngã, lìa sắc là ngã… thành ra luận chấp quyết định. Bản Ngụy dịch “Chấp thủ tướng ngã và ngã sở, nói pháp hư vọng”. Đường dịch “Lý phân biệt là ở chỗ vô lý, dùng tông nhân dụ thành lập cho là có lý”, nên gọi là Thành vọng tưởng.

9- Đại Huệ! Thế nào là sanh vọng tưởng? Nghĩa là duyên nơi tánh có không, sanh chấp trước. Đó gọi là sanh vọng tưởng.

Đây là kiến chấp về sanh.

Nghĩa là chấp trước các pháp hoặc có hoặc không, thảy đều có sanh, vì cho rằng có là có sanh, không cũng có sanh. Như nói Thái cực từ vô cực sanh ra, bởi thái cực vô hình mà vọng thấy có sanh, đây là cái không mà có sanh. Đến như lưỡng nghi, bát quái, tam tài, vạn vật đều nhất định có sanh, đây là cái có mà có sanh. Đường dịch “Hoặc có hoặc không, theo duyên mà sanh, gọi là phân biệt về sanh”.

10- Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng về bất sanh? Nghĩa là tất cả tánh vốn vô sanh, từ nhân duyên vô chủng sanh thân không nhân. Đó gọi là vọng tưởng về bất sanh.

Đây là kiến chấp bất sanh.

Nghĩa là các pháp xưa nay chẳng sanh. Vì trước khi chưa sanh, trước đó đã có thể bất sanh rồi. Thể này không từ nhân sanh, nên nói “Từ nhân duyên Không, sanh thân không nhân”.

Như Trang Tử nói “Sanh, sanh ấy là chẳng sanh”, chính là nói “Có một vật có trước cả trời đất” đó vậy. Đường dịch “Chấp trước tất cả pháp xưa nay chẳng sanh, chưa có các duyên mà trước có thể, không từ nhân khởi”. Đã chẳng từ nhân khởi, thế là vô nhân. Vô nhân ắt vô quả. Đã không nhân quả ắt thành đoạn diệt.

Thế thì tuy gọi tên là “bất sanh” mà thật là đoạn kiến. Cho nên trong giai thoại Bách Trượng, vị tăng đáp lầm học nhân một câu chuyển ngữ không rơi nhân quả, mà năm trăm kiếp đọa làm chồn hoang. Chính là rơi vào kiến chấp bất sanh này, vì hiểu lầm nghĩa vô sanh vậy. Xem nỗi đau này khiến người biết pháp e sợ.

11- Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng tương tục? Nghĩa là kia cùng tương tục, như giây vàng. Đó gọi là vọng tưởng tương tục.

Vọng tưởng tương tục này có hai. Một là pháp thế gian, như lý thuyết ngũ hành tương sanh tương khắc của thế tục, bát quái tứ thời qua lại không dứt. Gọi là tương tục. Hai là Phật pháp, nói về chúng sanh thế giới nghiệp quả tiếp nối không dứt cũng gọi đó là vọng tưởng.

Vì sao? Vì người thấu đạt lý vô sanh, nếu một niệm chẳng sanh thì mé trước mé sau dứt. “Một người phát khởi trở về nguồn chân, hư không trong mười cõi đều tiêu mất 3. Huống gì những thứ quốc độ ở trong hư không ấy mà không tan rã? Như thế thì từ

đâu mà có tiếp nối. Thế là không biết rõ các pháp duy tâm hiện, bèn vọng chấp các pháp thật có tự tánh tiếp nối, chỉ là vọng tưởng thôi.

12- Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng về phược chẳng phược? Nghĩa là chấp trước về nhân duyên phược chẳng phược, như sĩ phu phương tiện hoặc trói hoặc mở. Gọi là vọng tưởng về phược chẳng phược.

Đây là chấp thật có phiền não hay cột trói, Niết-bàn hay giải thoát.

Mười một loại vọng tưởng trước thuộc về ngu phu ngoại đạo. Một vọng tưởng này thuộc Nhị thừa. Vì hàng Nhị thừa không rõ phiền não tánh không nên cho sanh tử là có thể trói, không rõ Niết-bàn tánh không nên muốn đoạn phiền não mà chứng Niết-bàn. Như người bị trói, cần phải đợi cởi trói sau mới thoát được. Lăng Nghiêm nói: “Căn và trần đồng một nguồn, trói và mở không hai”, không phải chỗ hiểu của Nhị thừa.

Đối với các phân biệt tự tánh tướng vọng tưởng này, tất cả ngu phu chấp trước có không.

Đây là kết lỗi. Hễ có phân biệt đều là vọng tưởng. Người ngu không rõ, vọng chấp cho là thật có thật không.

Đại Huệ! Từ duyên khởi chấp trước mà chấp trước các thứ vọng tưởng chấp trước tự tánh, thị hiện các thân như huyễn, phàm phu vọng tưởng thấy khác với huyễn.

Đây nói về tánh biến kế chấp là y tha duyên khởi, do không biết viên thành, nên vọng cho là thật.

“Từ duyên khởi chấp trước mà chấp trước tự tánh”, như trong luận Tam Thập Tụng nói: “Do các biến kế ấy, biến kế các thứ vật”. Song tánh biến kế này vốn không tự tánh, chỉ nương vào cái khác mà khởi lên, do phân biệt làm duyên sanh ra. Phàm ngu không biết, vọng cho là thật. Bản Đường dịch “Ở trong duyên khởi chấp trước các thứ vọng chấp tự tánh, như nương nơi huyễn thấy các thứ vật, phàm ngu phân biệt thấy các vật ấy khác với huyễn”. Kinh nói: “Chúng sanh chẳng khác huyễn, biết rõ huyễn thì không thấy có chúng sanh”. Vì không thể quán chúng sanh như huyễn mà vọng phân biệt có không, một khác, nên nói Thấy khác với huyễn.

Đại Huệ! Huyễn và các thứ chẳng khác chẳng giống. Nếu khác thì huyễn chẳng làm nhân cho các thứ, nếu giống thì huyễn với các thứ không sai biệt mà thấy có sai biệt: Thế nên chẳng khác chẳng giống. Vì vậy, này Đại Huệ! Ông và các Đại Bồ tát khác chớ chấp trước về tự tánh vọng tưởng duyên khởi như huyễn là khác chẳng khác, là có hoặc không.

Đây kết luận chỉ ra tướng chân vọng bình đẳng.

Nghĩa là vọng tưởng vốn tự duyên sanh, hiểu rõ nó không tự tánh, thì không thể khởi lên sự phân biệt chấp trước là có không, một khác, nên nói rằng chẳng khác chẳng giống. Vì một, khác đều chẳng phải thì như như bình đẳng.

Huyễn dụ cho tâm, các thứ dụ cho vọng cảnh. Bởi các thứ nương huyễn mà khởi, nhưng huyễn vốn… không, huống gì nơi huyễn mà có ra các thứ, lại khởi các tà kiến một khác, có không… ư? Nên răn nhắc rằng: Chớ chấp trước về tự tánh vọng tưởng duyên khởi như huyễn, là một khác, có không. Nghĩa là tự tánh vọng tưởng ấy vốn không có, chỉ y cứ duyên khởi như huyễn thôi, thế nên đừng chấp trước về một khác, có không.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tâm buộc nơi cảnh giới

Trí giác tưởng chuyển theo,

Vô sở hữu và thắng

Trí huệ bình đẳng sanh.

💥 GIẢI

Đây là tụng chung chân vọng nhất như, để hiển bày tướng bình đẳng.

Nghĩa là ba cõi, năm uẩn, tất cả cảnh giới chỉ chuyển biến theo vọng tưởng. Song ở mé thật đương thể vắng lặng, vốn tự như như, nên nói như thế. Giác tưởng là vô minh vọng giác. Trí là trí tướng trong lục thô, tức là tâm phân biệt. Chỗ tối thắng vô sở hữu là chân như thật tế, vì tự tha đều dứt nên nói bình đẳng. Do vô minh bất giác vọng thấy cảnh giới thì tâm chuyển theo cảnh, cảnh lại lôi tâm nên không bình đẳng. Nếu dùng chánh trí quán thì tâm cảnh đều dứt, thành ra bình đẳng.

Lăng Nghiêm nói: “Thấy biết chấp thấy biết tức là gốc vô minh, thấy biết không chấp thấy biết tức là Niết-bàn”.

⚡️ KINH

Vọng tưởng tự tánh có

Nơi duyên khởi thì không

Vọng tưởng hoặc nhiếp thọ

Duyên khởi chẳng vọng tưởng 4

💥 GIẢI

Dưới đây là nội dung được gõ lại từ trang 396 của tài liệu bạn cung cấp:

396 | LĂNG GIÀ BÚT KÝ

Các thứ chi phần sanh | Như huyễn ắt không thành. Tướng kia có các thứ | Vọng tưởng ắt không thành. Tướng kia có lỗi này | Đều từ tâm phược sanh.

Bài tụng này nêu đại khái vọng tưởng cùng duyên khởi làm nhân cho nhau mà có.

Nghĩa là vọng tưởng vốn không tự tánh, sở dĩ có tự tánh là vì nơi pháp duyên khởi vọng sanh chấp trước. Song các pháp duyên khởi kia chẳng phải vọng tưởng. Vì sao? Vì tất cả các pháp duyên sanh như huyễn, mà các sự vật như huyễn kia có phần vị rõ ràng, nếu sanh cũng đều như huyễn, nên tuy sanh mà chẳng sanh, nên nói như huyễn ắt không thành. Tướng huyễn kia tuy có nhiều, kỳ thật tánh nó vốn vô sanh cũng không có tướng. Người thấy huyễn có tướng chỉ là vọng tưởng thôi. Nếu rõ nó như huyễn thì vọng tưởng chẳng sanh.

Do không biết rõ như huyễn, dựa vào đó tạo nghiệp, nên tướng huyễn mới là lỗi. Đây đều từ tâm phược sanh. Tướng huyễn đã nhân vọng tưởng mà có, nếu vọng tưởng chẳng sanh các tướng tự vắng lặng thì tánh y tha không, tướng huyễn vốn chẳng có. Bởi tâm và cảnh hỗ tương làm duyên khởi, nay huyễn tướng chẳng thành, ắt không có cảnh để đối với tâm. Vọng tưởng không thành thì không có tâm biết cảnh.

Tâm cảnh đều không, đường ngôn ngữ suy tư dứt bặt, vốn tự như như.

Vọng tưởng không chỗ biết | Nơi duyên khởi vọng tưởng Các tánh vọng tưởng này | Tức là duyên khởi kia Vọng tưởng có các thứ | Nơi duyên khởi vọng tưởng.

Đây tụng vọng tưởng từ duyên khởi sanh.

Vì mé thật của vọng tưởng vốn không có cảnh được biết, chỉ ở nơi pháp duyên khởi không rõ vô tánh, mà trở lại đối với chúng vọng sanh phân biệt, chấp trước có không, chấp giữ thiện ác, nên nói Nơi duyên khởi vọng tưởng. Vả lại các tánh vọng tưởng này trừ ngoài duyên khởi không có riêng, nên nói Tức là duyên khởi kia. Thế nên vọng tưởng có nhiều thứ, chỉ là vọng tưởng trong duyên khởi thôi.

Thế đế, đệ nhất nghĩa | Thứ ba, vô nhân sanh Vọng tưởng nói thế đế | Dứt tức cảnh giới thánh.

Đây tụng thế đế tức đệ nhất nghĩa đế, để giảng rõ tức vọng tức chân.

Nghĩa là nếu vọng chấp vọng tưởng duyên khởi thật có tự tánh, tức đệ nhất nghĩa đế là thế đế. Nếu rõ vọng tưởng duyên khởi không tánh, tức thế đế là đệ nhất nghĩa đế. Nếu không biết các pháp duyên sanh, tức cho là vô nhân sanh, lại rơi vào lỗi chấp minh đế của ngoại đạo. Thế là vốn không có thế đế, mà thế đế chỉ căn cứ vào vọng tưởng nói thôi.

Ngay chỗ vọng tưởng dứt lại chính là cảnh giới thánh trí tự giác (Đường dịch: Vọng chấp là thế tục, dứt tức là cảnh giới thánh).

Ví như việc tu hành | Nơi một hiện các thứ Nơi kia không các thứ | Tướng vọng tưởng như thế.

Đây tụng dụ chung cho vọng tưởng và duyên khởi làm nhân lẫn nhau sanh.

Nghĩa là đệ nhất nghĩa đế vốn không có các tướng, chỉ nhân vọng tưởng nên vọng thấy các pháp, mà lại ở trong đó chấp trước bao trùm, là tốt xấu, một khác, có không… chấp chặt cho là thật. Kỳ thật trong đệ nhất nghĩa đế vốn không có các việc này. Nên nói Nơi kia không các thứ. Người tu hành, là chỉ hàng nhị thừa căn cơ chậm lụt, tu bát bội xả, bốn thứ định thiên lệch. Khi quán màu xanh thấy tất cả trời đất muôn vật đều xanh. Khi quán vàng, trắng, đỏ; mỗi màu đều như vậy. Các vị ấy đối với một sắc pháp tùy tâm chuyển biến thấy các thứ tướng, vì ở trong không vọng thấy có, để dụ cho ở chỗ đệ nhất nghĩa đế lìa danh tướng, vọng thấy các pháp. Bởi chỗ thấy ấy đều là vọng tưởng, chẳng phải thật pháp, nên nói Tướng vọng tưởng như thế. Luận Tam Thập Tụng nói “Do các biến kế ấy, biến kế các thứ vật. Biến kế sở chấp này, tự tánh không thật có”.

Thí như bệnh nhặm mắt | Vọng tưởng thấy các sắc Bệnh chẳng sắc phi sắc | Duyên khởi bất giác như vậy.

Bài kệ này dùng thí dụ để chuyển tiếp giảng rõ ý trên.

Nghĩa là ở trong đệ nhất nghĩa đế, chỗ không một pháp mà thấy có các thứ, vì bởi nhân vô minh bất giác và duyên y tha vọng phân biệt, sanh tất cả pháp. Luận Tam Thập Tụng nói: “Tự tánh y tha khởi, từ duyên phân biệt sanh”. Thí như mắt nhặm, ở trong chỗ không có sắc tướng mà vọng thấy các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Phàm ngu bất giác vọng chấp là thật, nên nói Duyên khởi bất giác như vậy.

Thí như luyện vàng ròng | Tách rời các cáu bẩn Hư không chẳng mây che | Vọng tưởng sạch cũng vậy.

Tụng này dụ đệ nhất nghĩa đế xa lìa các lỗi, để hiển bày tánh Viên thành thật.

Luận Tam Thập Tụng nói: “Viên thành thật nơi ấy, thường xa lìa tánh trên”. Vì Viên thành thật, pháp vốn tùy duyên thành tất cả pháp, mà mỗi pháp đều chân thật, chỉ do vọng tưởng biến kế chấp trước nhiều thứ, nên nơi chân khiến chẳng chân. Nếu tình quên chấp dứt thời muôn pháp đều như, viên thành tự hiển lộ. Lúc đó chỉ nói rằng Vọng tưởng sạch cũng vậy. Văn sau nêu lỗi vọng tưởng.

Không có tánh vọng tưởng | Cũng không có duyên khởi Thiết lập và phỉ báng | Thảy do vọng tưởng hoại.

Bài tụng này đặc biệt nêu lỗi vọng tưởng, ý nói rõ duyên khởi từ vọng tưởng mà có.

Nghĩa là sở dĩ nói có duyên khởi thiết lập và phỉ báng, bởi nhân vọng tưởng mà nói vậy thôi.

Nếu không vọng tưởng, mà nói có duyên khởi thiết lập hay phỉ báng, đây cũng là vọng tưởng phân biệt, là tự phá hoại tri kiến như thật. Nên nói Không có tánh vọng tưởng… Ý Thế Tôn rằng: Nếu các ông không vọng tưởng, thì ta có gì lại nói duyên khởi? Và nói các ông có lỗi thiết lập, phỉ báng? Xem đây thì biết mười phương ba đời tất cả chư Phật xuất hiện nơi đời không có pháp riêng, đặc biệt chỉ vì nói để phá vọng tưởng chúng sanh thôi.

Nên văn sau nói “Các bậc Thánh đều biết và lần lượt trao truyền cho nhau: Vọng tưởng không tánh”.

⚡️ KINH

Vọng tưởng nếu không tánh 5 |

Mà có tánh duyên khởi

Không tánh mà có tánh |

Có tánh, không tánh sanh

Y nơi nhân vọng tưởng |

Mà được duyên khởi kia

Danh tướng thường theo nhau |

Mà sanh các vọng tưởng.

Rốt ráo không thành tựu |

Ắt qua khỏi vọng tưởng

Rồi sau trí thanh tịnh |

Gọi là đệ nhất nghĩa.

💥 GIẢI

Đây tụng chung ba tánh và năm pháp đều nương vọng tưởng mà lập.

Nghĩa là duyên khởi vốn không, chỉ nhân vọng tưởng mà có. Nếu không có vọng tưởng mà nói có duyên khởi, thế là không nhân mà có sanh, có sanh mà từ vô nhân sanh.

Đây là hiển bày đảo ngược, nhân nương vọng tưởng mới có duyên khởi, nhân có duyên khởi nên danh tướng theo nhau sanh như bóng theo hình. Thế thì danh tướng lại nhân vọng tưởng duyên khởi mà có. Đã có danh tướng, ắt vọng tưởng lại theo danh tướng sanh, lần lượt cùng làm nhân không cùng tận, đều là lỗi của vọng tưởng.

Làm thế nào để lìa lỗi vọng tưởng? Tụng kế nói Rốt ráo không thành tựu, ắt qua khỏi vọng tưởng, rồi sau trí thanh tịnh, gọi là đệ nhất nghĩa.

Bởi câu Rốt ráo không thành tựu ấy, Hoa Nghiêm nói: Tự tánh như thế, như huyễn như mộng, như ảnh như tượng, thảy đều không thành.

Ngài Trí Chứng nói: “Vì tánh chân như, pháp nhĩ tùy duyên, tuy tức tùy duyên, pháp nhĩ trở về tánh.

Do khi tùy duyên dường có hiển hiện, như thấy pháp huyễn chẳng có mà có, như xem cảnh mộng không thấy mà thấy, như nhìn bóng dưới nước chẳng ra chẳng vào, như hình ảnh trong gương không trong không ngoài. Do không tánh tùy duyên nên lý chẳng thành tựu. Do tùy duyên không tánh nên sự chẳng thành tựu. Lý sự chẳng thành ắt tất cả pháp đều chẳng thành”. Song tất cả pháp đều chẳng thành tựu mà răn nhắc vọng tâm, thì lại dựa vào đâu? Nên nói: Rốt ráo không thành tựu, ắt qua khỏi vọng tưởng, rồi sau trí thanh tịnh, gọi là đệ nhất nghĩa. Thế là duyên khởi danh, tướng, vọng tưởng đều tức là chánh trí như như.

Bài tụng sau kết hiển điều này.

⚡️ KINH

Vọng tưởng có mười hai |

Duyên khởi có sáu thứ

Trí tự giác, sở tri |

Chúng không có sai biệt.

Năm pháp là chân thật |

Tự tánh có ba thứ

Tu hành phân biệt đây |

Không vượt qua như như.

💥 GIẢI

Đây tụng tóm kết năm pháp, ba tự tánh… ở trên đều không vượt như như.

Bởi do chân như tùy duyên thành tất cả pháp, pháp pháp đều chân, chỉ do vọng tưởng chấp trước mà có sai biệt. Nếu dùng Tự giác thánh trí để quán sát, thì các pháp kia xưa nay vắng lặng. Đây là ba tánh không vượt như như.

Do mê lý chân như mà lập danh tướng nên chánh trí đổi thành vọng tưởng. Ngộ danh tướng vốn Như, tức vọng tưởng mà thành chánh trí. Đây là năm pháp không vượt như như. Nên răn nhắc người tu hành có thể quán như thế, ắt là nơi nơi vật vật nhật dụng đều như như.

Câu Duyên khởi có sáu thứ tức là ở quyển đầu nói về sáu nhân.

Các tướng và duyên khởi | Gọi là khởi vọng tưởng Các tướng vọng tưởng ấy | Từ duyên khởi kia sanh. Trí giác khéo quán sát | Không duyên không vọng tưởng Viên thành rồi không tánh | Vì sao có vọng tưởng?

Đây nói về nhân y cứ của mê ngộ.

Khi mê thì duyên khởi vọng tưởng hỗ tương mà sanh khởi. Khi ngộ thì tánh là viên thành, không còn duyên khởi vọng tưởng. Đường dịch “Trong chỗ thật không vật, làm sao khởi phân biệt”. Ở đây nói Viên thành rồi không tánh.

Vì sao có vọng tưởng?

Bản Đường dịch phần này thêm bốn câu “Nếu có Viên thành thật, ắt là lìa có không, đã lìa có không rồi, sao có hai tánh kia” (Tức hai tánh Biến kế và Y tha).

Tự tánh vọng tưởng kia | Kiến lập hai tự tánh Vọng tưởng hiện các thứ | Cảnh giới thánh thanh tịnh.

Đây nói hai nẻo thánh phàm chỉ nương vào vọng tưởng mà thành lập.

Nghĩa là, nếu nương tự tánh vọng tưởng, vọng thấy thật có căn thân thế giới tất cả các pháp, thì hai thứ tự tánh danh ngôn và sự tướng theo đó kiến lập. Đó là phàm ngu. Nếu có thể chính nơi chỗ hiện các vọng tưởng, ngay đó dùng trí quán sát vọng tưởng vô tánh, lìa thể toàn không tức là cảnh giới Tự giác thánh trí. Đây chính là hiểu rõ vọng vốn hư dối, tức tâm phàm mà thấy Phật.

Thanh tịnh là tên khác của Không. Hai tự tánh chính chỉ cho tướng chấp trước tự tánh ngôn thuyết, và chấp trước tự tánh sự. Tức là hai pháp danh và tướng vậy.

Vọng tưởng như vẽ màu | Duyên khởi chấp vọng tưởng Nếu khác với vọng tưởng | Là nương luận ngoại đạo.

Đây nói hai nẻo tà chánh đều nương vào vọng tưởng mà thành lập.

“Tâm như người thợ vẽ, hay vẽ các thế gian”.

Thế là duyên khởi của các pháp vốn từ vọng tưởng mà có.

Bởi người ngu không biết, chỉ ở trên pháp duyên khởi mà sanh phân biệt kiến chấp một khác, có không…, rồi chấp bướng riêng có sanh nhân. Há chẳng biết vọng tưởng là gốc sanh các pháp. Nếu bỏ vọng tưởng mà nói chư pháp riêng có nhân khác, từ minh đế, vi trần, tự tại, thắng tánh… sanh ra, thì rơi vào tà kiến của ngoại đạo. Nên nói Nếu khác với vọng tưởng, là nương luận ngoại đạo.

Vọng tưởng, nói chỗ tưởng | Nhân kiến hòa hợp sanh Lìa hai vọng tưởng này | Như thế ắt là thành.

Đây là kết luận nêu ra nghĩa chánh.

Đường dịch: Vì các vọng kiến nên vọng chấp nơi vọng chấp.

Nghĩa là hàng phàm phu ngoại đạo, chỉ dùng vọng kiến để phân biệt pháp vọng chấp, cho nên không ra khỏi vọng tưởng điên đảo.

Nếu có thể lìa các vọng tưởng này, thì ngay đó vốn tự viên thành.

Đây chính là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Tâm cuồng không dứt, dứt tức Bồ-đề, tâm thắng tịnh minh, vốn chẳng từ bên ngoài được”.

Đâu cần phải mượn sự tu chứng nhọc nhằn, nên nói Lìa hai vọng tưởng này, như thế ắt là thành.

Chương này nói cách quán chung năm pháp ba tự tánh đều quy về vọng tưởng, song vọng tưởng vốn tự như như.

Đây là lý do hành tướng nhất thừa bình đẳng.

Phần trên đã nói tức vọng tức chân để hiển nhân tướng bình đẳng.

Sau đây nói tức tâm tức cảnh để hiển quả tướng bình đẳng.

K₂ - Tức tâm tức cảnh để hiển quả bình đẳng

L₁ - Tức Tâm

L₂ - Tức cảnh


L₁ - Tức Tâm

Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng “Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng tự giác thánh trí và nhất thừa. Nếu tướng tự giác thánh trí và nhất thừa, con và các Bồ tát thông đạt Phật pháp bằng cách khéo biết tướng tự giác thánh trí và nhất thừa, không cách nào khác bằng cách này”.

Đây nói về Tự giác thánh trí, giải thích phần Như Lai thiền ở trên, để hiển bày quả tướng bình đẳng.

Do phần trước Phật đã theo phương diện sở quán là Duyên khởi và Vọng tưởng để nói rõ nhân bình đẳng rồi, song không biết trí năng quán là tự giác thánh trí và quả tướng là cứu cánh nhất thừa như thế nào. Sắp hiển bày Như Lai thiền cứu cánh thanh tịnh thật tướng bình đẳng đệ nhất nghĩa đế tối thắng, nên đưa ra câu hỏi này.

Phật bảo Đại Huệ “Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ ghi nhớ, ta sẽ vì ông nói”.

Đại Huệ bạch Phật “Xin vâng thọ giáo”.

Phật bảo Đại Huệ “Điều mà các bậc tiên thánh biết, và lần lượt trao truyền cho nhau là vọng tưởng vô tánh”. Đó là điều mà bậc Đại Bồ tát ở riêng chỗ vắng tự giác quán sát, không dùng phương pháp khác, lìa kiến chấp vọng tưởng, tăng tiến lên các địa, vào Như Lai địa. Đó gọi là tướng Tự giác thánh trí.

Đây chỉ bày trí như như.

Chính là yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền, mật ý chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, đặc biệt nêu ra ở đây.

Ngài Trí Chứng nói: “Cái diệu của vô tánh là điều bí mật của Phật Tổ, bởi thường thầm diễn bày mà không thường nói rõ”.

Vì sao biết? Viên Giác nói: Tự tánh Viên giác chẳng phải tánh mà có tánh, theo các tánh khởi, không thủ không chứng.

Kinh Duy Ma nói: Chẳng sanh chẳng diệt, là nghĩa vô thường.

Phẩm Thập Địa nói: Vì không thấu đạt đệ nhất nghĩa, nên gọi là vô minh.

Luận Khởi Tín nói: Vì không biết như thật về pháp chân như, bất giác mà có vọng niệm.

Phàm những câu nói: “Chẳng phải tánh mà có tánh”, “Không sanh diệt mà vô thường” và “Không thấu rõ”, đều là vì vô tánh vậy.

Song những lời ấy đều là lời ngăn, muốn cho học giả tự ngộ.

Đây là chỗ mà tôi nói là “thầm diễn bày” vậy. Nay thì nói rõ vô tánh, đó chính là “nói tỏ rõ”.

Đây nói: Điều mà các bậc tiên thánh biết chỉ là biết vọng tưởng vô tánh. Há thật có chỗ truyền trao ư? Chỉ ở chỗ thầm khế hợp, tự biết mà thôi.

Người xưa nói: “Được đắp y ngồi, về sau tự xem xét”, nên đây nói Riêng ở chỗ vắng tự giác quán sát, ý rằng nếu có thể quán sát điều này, thì không do bên ngoài.

Đây gọi là Tự giác thánh trí, vì không có trí ngoài Như để chứng như, nên phần này gọi là Tức Tâm.

L₂ - Tức cảnh

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thế nào là tướng nhất thừa? Nghĩa là được đạo nhất-thừa-giác, ta nói là Nhất thừa. Thế nào là được đạo Nhất-thừa-giác? Nghĩa là tâm năng nhiếp và vọng tưởng sở nhiếp, chỗ như thật chẳng sanh vọng tưởng, gọi là Nhất-thừa-giác.

Đại Huệ! Nhất-thừa-giác không phải chỗ chứng đắc của ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên vương… Chỉ trừ Như Lai.

Vì thế nên gọi là Nhất thừa.

💥 GIẢI

Đây nói về quả giác bình đẳng, để nêu bày lý như như. Nghĩa là lìa phân biệt năng thủ sở thủ, trụ chỗ như thật, một niệm chẳng sanh, là chứng lý như như. Đó chính là không chấp giữ tướng, như như bất động là Nhất-thừa-giác.

Đây chỉ có Phật với Phật mới có thể xét cùng thật tướng các pháp, nên nói Chỉ có Như Lai, chẳng phải hàng ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên vương… có thể chứng đắc. Do không có Như ngoài Trí để làm chỗ cho trí chứng nhập nên phần này gọi là Tức Cảnh.

Do lý trí nhất như nên nói tâm cảnh bình đẳng.

Trên nói tức tâm tức cảnh để hiển bày quả bình đẳng.

Sau đây tức quyền tức thật để hiển bày pháp bình đẳng.

K₃ - Tức quyền tức thật để hiển bày pháp bình đẳng

⚡️ KINH

Đại Huệ bạch Phật rằng: “Cớ sao Thế Tôn nói ba thừa, mà không nói nhất thừa?”.

Phật bảo Đại Huệ: “Vì pháp không tự nhập Niết-bàn, nên không nói nhất thừa cho tất cả Thanh văn, Duyên giác. Vì tất cả Thanh văn, Duyên giác, được Như Lai điều phục, trao cho phương tiện tịch tĩnh mới được giải thoát, không phải tự sức của họ, cho nên không nói nhất thừa.

Lại nữa Đại Huệ! Vì phiền não nghiệp chướng, tập khí không dứt nên không nói nhất thừa cho hết thảy Thanh văn, Duyên giác.

Họ không biết pháp vô ngã, không lìa được phần đoạn tử (Đường dịch: Chưa được gọi tên là Bất tư nghì biến dịch tử), nên nói Tam thừa (Ghi chú của ngài Đức Thanh: Chữ không lìa đáng lẽ là đã lìa, ý nói các bậc Nhị thừa đã lìa phần đoạn tử).

💥 GIẢI

Đây nói rõ ý sở dĩ Như Lai không nói Nhất thừa, để hiển bày tức quyền tức thật, để lìa lỗi chẳng bình đẳng.

Ý rằng một bề không vì hàng Thanh văn nói Nhất thừa, vì để đợi thời cơ chẳng phải tuyệt đối không nói.

Chỗ này hai ý, một là nhân vì hàng Thanh văn chỉ y cứ vào phương tiện tịch tĩnh do Như Lai trao cho mà điều phục, tuy chứng giải thoát song chẳng phải phần trí tuệ của họ, sợ họ kinh nghi nên không dám nói cho nghe.

Hai là do các vị ấy chưa dứt hết tập khí sở tri chướng, chưa biết được pháp vô ngã, chưa thể gọi là Bất tư nghì biến dịch tử, không kham thọ nhận pháp này, nên không nói cho nghe.

Cốt yếu là hãy đợi thời mới nói, chẳng phải rốt ráo không nói. Nếu rốt cuộc không nói thì có lỗi không bình đẳng. Ý rằng nếu lìa những lỗi trên thì cũng có thể được vào, nên sau đây nói rõ.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Những người ấy đoạn dứt tất cả lỗi tập khí về khởi phiền não, và biết pháp vô ngã. Họ đoạn tất cả lỗi tập khí phiền não, đắm trước vui tam-muội chẳng phải tánh giác, biết vô lậu giới (Đường dịch: Nếu họ có thể trừ được tất cả lỗi tập khí, biết pháp vô ngã, lúc ấy bèn lìa sự say đắm tam-muội, đối với vô lậu giới được giác ngộ, đã giác ngộ rồi). Giác rồi, lại vào vô lậu giới xuất thế gian thượng thượng, đầy đủ viên mãn, sẽ được pháp thân tự tại bất tư nghì của Như Lai.

💥 GIẢI

Đây nói về chủng tánh vô gián của Thanh văn, để hiển bày pháp bình đẳng.

Vì hàng Nhị thừa y cứ vọng tưởng mà chấp giữ quả Niết-bàn, nên bị tam-muội làm say, không được pháp vô ngã. Nếu họ có thể biết vọng tưởng vô tánh, thì đối với tam-muội Niết-bàn bị chấp, và tập khí phiền não, ngay đó liền lìa, liền được Niết-bàn vô thượng của Như Lai, chứng pháp thân tự tại bất tư nghì. Như thế thì nhân pháp không khác, nào có tam thừa.

⚡️ KINH

Lúc ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Chư thiên và Phạm thừa |

Thanh văn, Duyên giác thừa

Chư Phật Như Lai thừa |

Ta nói các thừa ấy.

Cho đến có tâm chuyển

Các thừa chẳng cứu cánh

Nếu tâm kia diệt tận |

Không thừa và người thừa

Không dựng lập các thừa |

Ta nói là nhất thừa.

💥 GIẢI

Đây nói kiến giải thánh phàm dứt, tình chấp phân biệt quên, tức là Nhất thừa, chẳng phải ngoài đây riêng có Nhất thừa.

Chư thiên, Phạm… là chỉ phàm tình. Thanh văn Duyên giác chư Phật Như Lai là thánh giải. Nếu nói chuyển phàm thành thánh thì dù đắc thánh giải cũng rơi vào phàm tình. Vì sao? Vì rằng tâm Bồ-đề sanh tâm sanh diệt dứt, cũng còn thuộc vào sanh diệt, vừa khởi tâm động niệm liền trái pháp thể.

Thế nên việc hướng thượng trong tông môn thành Phật tác Tổ cũng còn mang ô danh, do không lìa được hữu tâm, nên nói Cho đến có tâm chuyển, các thừa chẳng cứu cánh. Nếu dứt sạch tâm lượng, tình phàm thánh quên, năng sở đều vắng, một niệm chẳng sanh, tức là cứu cánh nhất thừa tịch diệt, chân thật giải thoát, vậy.

⚡️ KINH

Vì dẫn đạo chúng sanh |

Phân biệt nói các thừa

Giải thoát có ba thứ |

Và cùng pháp vô ngã.

Phiền não, trí tuệ thảy |

Giải thoát ắt lìa xa.

💥 GIẢI

Đây là đề phòng nạn vấn và dẹp tình chấp.

Sợ có người nghi rằng: Tam thừa đã chẳng phải cứu cánh, Như Lai cớ gì nói pháp không chân thật? Nên đây giải thích: Như Lai vì dẫn đạo chúng sanh nên nói ba thừa, ba giải thoát, hai vô ngã, trừ sạch hai chướng… đều là tùy theo ý của chúng sanh mà nói, như dùng lá vàng để dỗ con nít khóc, vốn chẳng phải pháp thật. Chỉ vì hàng độn căn cho đó là pháp thật nên bị pháp trói buộc, không được giải thoát. Nếu là hàng lực lượng lớn, có thể chóng thấy tự tâm hiện lượng, trụ chỗ cứu cánh như thật, một phen nhìn thấu, thì ngay đó thoát thể vô y, liền có thể quét sạch kiến lượng của phàm thánh. Như sư tử thoát xiềng xích dạo chơi tự do mới gọi là người thật giải thoát, nhìn lại các pháp như tỉnh cơn mộng dài, chưa từng có cái chẳng lìa, nên nói Giải thoát ắt lìa xa.

Như cây nổi trên biển | Thường theo sóng gió trôi Thanh văn ngu cũng vậy | Bị gió thổi trôi dạt Khởi phiền não kia diệt | Tập phiền não còn ngu.

Đây nói Thanh văn sở dĩ bị gió tự tướng cộng tướng xoay chuyển trôi lăn, vì các vị ấy chỉ dứt được tứ trụ phiền não, chưa đoạn được tập khí còn lại của căn bản vô minh.

Dòng sanh tử có ba thứ là dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu. Vì các vị ấy chỉ đoạn hai dòng dục lưu và hữu lưu, chưa đoạn vô minh lưu. Đã bị vô minh trôi dạt nên do thân năm uẩn ở trong biển sanh tử như gốc cây nổi, thường theo sóng trôi. Vì thế họ vào trần ắt đọa.

Đắm trước vui tam-muội | An trụ cõi vô lậu Không hướng đến cứu cánh | Cũng không có thối lui Được các thân tam-muội | Cho đến kiếp không tỉnh.

Đây nói lỗi của Thanh văn.

Do đắm trước tam-muội, nên tiến lên thì không thể hướng vào đất cứu cánh, vì an trụ trong cõi vô lậu nên cũng không lui sụt rớt trong sanh tử ba cõi. Do được tam-muội giữ tâm nên tuy trải qua kiếp số mà không tỉnh.

Thí như người say sưa | Rượu hết sau mới tỉnh Kia giác pháp cũng vậy | Được thân Phật vô thượng.

Đây tụng về tánh vô gián.

Bởi vì hàng Nhị thừa cùng với Phật, tánh vốn vô gián, chỉ tự bị pháp trói buộc, gọi là uống rượu vô vi, nằm giường tịch diệt. Rượu tỉnh, mộng thức, chưa từng chẳng đến địa vị Như Lai.

Hỏi: Phần trên trách ngoại đạo Nhị thừa, có nói xiển đề cũng được thành Phật, còn đây chỉ hứa Nhị thừa mà không nói ngoại đạo, đó là sao?

Đáp: Theo phẩm vị mà nói, thì phàm phu lớn không bằng bậc thánh nhỏ. Theo căn tánh mà nói, thì bậc thánh nhỏ không bằng hàng phàm phu lớn. Ngoại đạo kia, tuy nói là tà kiến, mà có người căn cơ bén nhạy lanh lẹ, phần lớn có thể một bước nhảy liền vào. Như đồ tể Quảng Ngạch, buông dao mổ thịt liền làm Phật sự. Một ngày tu bằng gấp mấy kiếp đó vậy. Nếu hàng Nhị thừa, say chìm trong vô minh, cùng kiếp chẳng tỉnh, rất khó hóa độ. Nên ở đây đặc biệt nói, ý ở chỗ cổ động sự hiểu biết kém cỏi của họ, khuyến khích tiến lên bảo sở. Đây chính là mật ý dẫn quyền về thật. Thần lực gia trì của Như Lai, đâu thể dùng tâm hiểu tầm thường mà đo lường sức diệu dụng bất tư nghì được.

  • Trên đây giải thích rộng về tướng sai biệt giữa nhân quả tà chánh đã xong.

⏯️


NGUỒN

🔗


GHI CHÚ

Footnotes

  1. ¹ Đường dịch: Tướng sai biệt của tự tánh vọng chấp.

  2. ¹ Vọng tưởng về sự việc được nói ra.

  3. ¹ Kinh Lăng Nghiêm: Nhất nhân phát chân quy nguyên, thập phương hư không tất giai tiêu dẫn.

  4. ¹ Đường dịch: Tại vọng chấp là có.

  5. ¹ Đường dịch: Nếu không có tánh vọng tưởng.


Luận giải liên quan