BẢO CHÍ CÔNG [Thiền sư]


GIỚI THIỆU

Thiền sư Bảo Chí ở Kim Lăng, là người Kim Thành (Nay là Cú Dung Giang Tô), họ Chu. Thuở thiếu niên, sư xuất gia tại chùa Đạo Lâm, tu tập Thiền định. Buổi đầu niên hiệu Thái Thỉ nhà Tống (465), sư hốt nhiên cử chỉ không nhất định ăn uống vô chừng, tóc xòa quá gối, đi chân đất, chống gậy Thiền trên đầu gậy giắt một cây dao cùng mang xiềng xích bằng đồng có lúc mang một tấm vải hai thước, phiêu nhiên sái thoát, siêu dật chẳng thậm thường. Mấy ngày sư không ăn, không uống, nhưng nét mặt không hề lộ vẻ đói khát. Sư thường ca ngâm và lời ca đượm nét sấm ký. Sĩ tử và thứ dân cho sư là bậc khác thường, hết mực tôn sùng.

Năm thứ bảy, niên hiệu Vĩnh Minh nhà Tề (489), Tề Võ Đế lấy tội danh yêu ngôn gạt gẫm người, bắt sư nhốt vào nhà ngục ở Kiến Khương (Một tên khác của Nam Kinh). Tưng bửng sáng hôm sau, người ta thấy sư đi vào chợ, nhưng kiểm soát nhà ngục thì thấy sư vẫn còn nguyên trong đó. Quan huyện lệnh Kiến Khương đem việc tâu lên Võ Đế. Đế bán tin, bán nghi, thỉnh sư vào hậu đường trong cung mà cúng dường. Sư trụ tại vườn Huê Lâm, bỗng nhiên ngày kia mặc đổ tang, thân mang ba lớp áo vải, đầu đội ba cái mũ tang, mà cũng không ai biết từ đâu sư có các thứ đó. Sau đó không lâu thì Dự Chương vương và thái tử Văn Huệ đều qua dời, khiến Võ Đế sanh chán dời và nhà Tề cũng do đó mà tới hồi mạt vong. Những chuyện thần kỳ của sư khiến cung đình cảm thấy hết sức sợ hãi, bèn hạn chế không cho sư hành động tự do, lại ngăn cấm không cho sư tùy tiện ra vào. Mãi khi Lương Cao Tổ tức vị hạ chiếu rằng: ‘Chí Công tuy hình tích bụi bặm dơ bẩn, nhưng tinh thần ngao du nơi thái hư, nước lửa không thể làm ngài ướt hay khô, rắn rít, hùm beo không thể xâm phạm, khiến ngài sợ sệt. Xét Phật lý của ngài thì từ bậc Thanh văn trở lên, xét dấu tích chìm ẩn của ngài thì đúng là bậc cao nhân, độn tiên, há lại dùng hình thức của tục sĩ thường tình mà hạn chế hành vi của ngài sao? Thật là bỉ lậu đến như thế. Rồi đó, Đế trừ bỏ lệnh cấm chế sư.

Lương Võ Đế một hôm hỏi sư: Đệ tử bị phiền não mê hoặc, thỉnh sư có biện pháp huyền diệu nào đối trị không?

Sư đáp: Thập nhị.

Có kẻ thức giả bàn rằng, đó chỉ là thập nhị nhân duyên, là thuốc hay để trị mê hoặc. Võ Đế không hiểu lại hỏi chỉ ý của Thập nhị.

Sư nói: Chỉ ý tại chữ ghi thời khắc ở đồng hồ.

Có kẻ sĩ hiểu chuyện cho là chỉ ý của Thập nhị là trong mười hai thời thìn phải tinh tấn không được lười nhác tu tập thì mới thể đắc.

Võ Đế lại hỏi: Đệ tử lúc nào thì có thể tịnh tâm tu tập?

Sư nói: An lạc cấm.

Có kẻ sĩ hiểu việc cho rằng nghĩa của chừ ‘Cấm’ là ‘dừng’, vậy câu đó nói tu tập tới lúc nào thân tâm an lạc thì dừng.

Sư còn riêng chế tác 24 thủ thi nói về chỉ thú của Thiền tông gọi là ‘Đại thừa tán’, thịnh hành trong đời.

Mùa đông năm Thiên Giám thứ mười ba (514), lúc sắp ra đi, sư bỗng dặn môn nhân đem tượng thần Kim Cang trong chùa để ra ngoài, lại bí mật nói với mọi người: Bồ tát sắp rời xa.

Chưa đầy 10 ngày sau, sư không bệnh mà mất, toàn thân thơm phức. Trưóc đó, lúc sắp lâm chung, sư đốt một cây nến giao cho xá nhân Ngô Khánh. Ngô Khánh đem việc đó tâu lên Võ Đế dùng hậu lễ an táng sư tại gò Độc Long ở Chung Sơn, bên phần mộ lập tinh xá. Đế lại sắc cho Lục Thùy viết bài minh khắc tại mộ, Vương Quân khắc bi văn tại cổng chùa, lại truyền bá di tượng của sư khắp xứ.

Ban đầu, sư hiển lộ kỳ tích là ở độ tuổi năm sáu mươi, nhưng đến khi viên tịch vẫn không thấy già, thành ra mọi người không thể đoán được sư bao nhiêu tuổi. Nhưng có một ông lão tên Dư Tiệp Đạo, tuổi 93, tự xưng là em bên ngoại của sư, nhỏ hơn sư 4 tuổi, do đó mà đoán rằng lúc lâm chung, đại khái sư 97 tuổi.

Sắc thụy là Diệu Giác Đại Sư.


NGUỒN

🔗 Cảnh Đức Truyền Đăng Lục - Quyển 27: Các Thiền sư nổi tiếng không thuộc bất cứ tông phái nào


GHI CHÚ


Thiền sư liên quan