GIỚI THIỆU
Lục Tổ đại sư Huệ Năng, họ Lư. Tổ tiên người Phạm Dương. Cha tên Hành Thao, niên hiệu Vũ Đức làm quan bị giáng tới Tân Châu, thuộc Nam Hải và định cư tại đây.
Sư lên 3 tuổi thì cha mất, mẹ giữ tiết nuôi nấng đến lớn khôn thì nhà càng nghèo túng, sư phải đốn củi đem bán nuôi mẹ. Ngày nọ nhân gánh củi đi đến chợ, chợt nghe có người khách đọc kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” thì đâm ra cảm ngộ. Sư hỏi khách rằng:
- Đây là pháp gì, ông được từ ai ?
Khách nói:
- Đây là kinh Kim Cang, ta được từ chỗ Nhẫn đại sư ở Hoàng Mai.
Tổ liền cáo từ mẹ lên đường vì pháp, tìm thầy. Ngài đi đến Thiều Châu, gặp bậc cao hạnh Lưu Chí Lược kết làm bạn hữu. Có bà ni Vô Tận Tạng là cô của Lưu Chí Lược, thường đọc kinh Niết-bàn. Sư dần nghe liền định giải thuyết nghĩa kinh cho ni. Ni cầm sách đưa hỏi về chữ. Tổ nói:
- Chữ thì không biết, nhưng nghĩa thì xin cứ hỏi.
Ni nói:
- Chữ đã không biết thì làm sao hiểu được nghĩa ?
Tổ nói:
- Diệu lý của chư Phật, không liên hệ gì tới chữ nghĩa.
Ni hết sức kinh ngạc, nói với các kỳ lão trong thôn:
- Ông Năng là người có đạo căn, đáng được cúng dường.
Thế là người trong thôn kéo đến chiêm bái, kính lễ. Gần đấy có ngôi chùa cổ Bảo Lâm, mọi người bàn định xây lại để Tổ đến trụ trì. Tứ chúng kéo nhau đến thật đông, không bao lâu nơi đây trở thành chốn chùa chiền trang nghiêm thanh nhã.
Một hôm, Tổ chợt nghĩ: “Ta lìa xa mẹ cầu đại pháp sao dừng ở nửa đường ? Hôm sau thì lên đường, đi đến động đá Tây Sơn huyện Lạc Dương, gặp Thiền sư Trí Viễn. Tổ ra mắt hỏi đạo.
Viễn nói:
- Xem thần khí ông rất tốt, rõ là người sáng bạt không phải tầm thường. Ta nghe Bồ Đề Đạt Ma xứ Tây vực đã truyền tâm ấn nơi Hoàng Mai, ông nên đến đó tham cầu yếu quyết.
Tổ bèn cáo từ ra đi, đến Đông Sơn thuộc địa hạt Hoàng Mai. Lúc ấy nhằm thời nhà Đường, niên hiệu Hàm Hanh, năm thứ III.
Nhẫn đại sư vừa trông thấy đã ngầm nhận biết ngay. Sau Tổ truyền y bát, dặn nên lánh một thời gian tại Tứ Hội và Hoài Tập.
Đến niên hiệu Nghi Phụng nguyên niên, năm Bính Tý, ngày 8 tháng giêng, Tổ đến Nam Hải gặp Pháp sư Ấn Tông tại chùa Pháp Tính đang giảng kinh Niết-bàn. Tổ dừng ngoài hiên chùa nghe giảng. Chiều tối, gió thổi lay động lá phướn chùa. Nghe hai ông tăng đối đáp nhau: Một người nói phướn động, người kia nói gió động, cùng cãi vả nhau vẫn chưa thấu lý.
Tổ nói:
- Có thể cho kẻ tục lữ tầm thường này lạm bàn cùng cao kiến được không ? Thực ra, gió với phướn đều không động mà là do tâm các thầy động đấy. Ấn Tông nghe lời nói ấy ngạc nhiên.
Hôm sau, Ấn Tông mời Tổ vào thất hỏi nghĩa thâm diệu về gió và phướn. Tổ dùng lý trình bày cặn kẽ. Ấn Tông bất giác đứng lên, nói:
- Hành giả nhất định không phải là người thường vậy thầy ông là ai ?
Tổ không thể giấu giếm, bèn thuật nguyên do việc đắc Pháp. Thế là Ấn Tông bèn tự chấp lễ đệ tử, thỉnh cầu được nhận pháp yếu của Thiền.
Ngài cáo cùng tứ chúng: Ấn Tông ta đây thực là phàm phu, nay mới được gặp Bồ-tát thân phàm.
Đoạn chỉ Lư cư sĩ dưới pháp tòa nói: Chính là vị này đây.
Nhân đó cầu xin Tổ đưa ra tín y, bảo mọi người cùng chiêm bái.
Ngày 15 tháng giêng, Ấn Tông mời các bậc danh đức đến làm lễ cạo tóc cho Lư cư sĩ.
Đến ngày 8 tháng 2, Trí Quang Luật sư chùa Pháp Tính đứng ra làm lễ thọ cụ túc giới cho Tổ. Giới đàn này do Ngài Tam Tạng Cầu-na-bạt-đà-la triều (Lưu) Tống thiết lập.
Ngài Tam Tạng Bạt-đà-la cũng đã thọ ký: “Sau này sẽ có Bồ- tát thân phàm thọ giới tại đàn này”.
Lại vào cuối thời Lương, Chân đế Tam tạng đã tự tay trồng hai cây Bồ-đề bên cạnh đàn và nói với chúng: “Sau 120 năm, sẽ có bậc Đại pháp sĩ dưới cội cây này diễn pháp vô thượng thừa độ vô số chúng sanh”.
Thọ giới xong, ngay dưới cội Bồ-đề, Tổ khai diễn pháp môn Đông Sơn - đúng như dự ngôn trước kia.
Sang năm, vào ngày 8 tháng 2, Tổ bỗng nói cùng môn nhân: Ta không định lưu tại đây mà muốn trở về nơi ẩn khi xưa.
Ấn Tông bèn cùng hơn ngàn người cả tăng lẫn tục làm lễ tiển đưa Tổ về chùa Bửu Lâm. Quan Thứ sử Thiều Châu là Vi Cứ đã thỉnh sư đến chùa Đại Phạn thuyết giảng pháp vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa.
Môn đồ đã chép lại thành sách tên gọi Đàn Kinh, truyền bá rộng rãi trong đời.
Sau đó, Tổ trở về Tào Khê, thuyết giảng đại Pháp. Học giả thường không dưới ngàn người.
Đời vua Trung Tôn, niên hiệu Thần Long năm đầu, có chiếu rằng: “Trẫm mời hai thiền sư Tuệ An và Thần Tú vào cung cúng dường để khi rãnh việc triều chính đa đoan được tham cứu nhất thừa thì hai Đại sư cùng tận lực tiến cử rằng: ‘Phương Nam có Thiền sư Năng, đã mật thọ y Pháp của Nhẫn đại sư, có thể đến hỏi đạo ông ấy’. Trẫm sai nội thị Tiết Giản lãnh chiếu đi cung thỉnh, mong sư từ niệm, mau đến kinh thành”.
Tổ dâng biểu từ chối vì đau yếu, nguyện chung thân ở nơi rừng núi.
Giản nói: Các bậc Thiền đức ở kinh thành đều nói, muốn lãnh hội được đạo, tất phải ngồi thiền tập định, nếu chẳng vì thiền định mà được giải thoát thì là chưa từng có, vậy xin hỏi pháp mà sư nói như thế nào ?
Tổ nói: Đạo từ tâm mà ngộ, há tại vì ngồi thiền sao ? Kinh nói: “Nếu nói thấy Như Lai, hoặc ngồi, hoặc nằm, ấy là tà đạo vậy”. Tại sao vậy ? Bởi vì Như Lai không từ nơi nào đến đây, cũng chẳng đi về nơi đâu.
Nếu biết không sanh diệt thì đấy là Như Lai thanh, tịnh Thiền. Nhận thực các pháp vắng lặng: tịch tịnh là Như Lai tịnh tọa. Rốt cùng, chân đế của Phật pháp há chỉ do ngồi thiền mà chứng đắc ru ?
Giản nói: Đệ tử trở về, chúa thượng tất hỏi, cúi nguyện Hòa thượng từ bi chỉ cho con chỗ tâm yếu.
Tổ nói:
Đạo không sáng tối, sáng tối là nghĩa đối đãi qua lại. Sáng tối thì không cùng, song rồi cũng có chỗ tận, vì đối đãi qua lại nhau nên phải đặt tên kêu gọi. Vậy nên Kinh viết: “Pháp không có so sánh, không đối đãi nhau”.
Giản nói: Sáng, dụ cho trí tuệ, tối ví như phiền não. Người tu hành nếu chẳng lấy trí tuệ phá tan phiền não thì nhờ đâu thoát khỏi sanh tử từ vô thỉ ?
Tổ nói: Phiền não tức là Bồ-đề, không hai không khác. Nếu lấy trí tuệ chiếu tan đi phiền não thì đấy là hàng Nhị thừa tiểu kiến, là cỗ xe dê, xe nai. Bậc thượng căn đại trí thì chẳng như vậy.
Giản hỏi: Thế nào là kiến giải Đại thừa ?
Tổ bảo:
Sáng với không sáng, tánh ấy không hai. Tánh không hai chính là thực tánh. Thực tánh ấy ở phàm ngu chẳng hề giảm, mà ở Thánh hiền nó cũng chẳng tăng. Ở chỗ phiền não mà không loạn, trụ trong Thiền tịnh mà không cô quạnh, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng đi chẳng đến, chẳng ở nơi giữa, cho đến trong ngoài cũng không, không sanh không diệt, tánh tướng như như, thường trụ không chuyển biến, đổi thay - đấy gọi là đạo.
Giản nói: Thầy nói không sanh không diệt, vậy có gì khác với ngoại đạo ?
Tổ bảo:
Chỗ giảng giải chẳng sanh chẳng diệt của ngoại đạo là lấy diệt ngăn sanh, lấy sanh để hiển bày cái diệt. Diệt do vậy vẫn không diệt, sanh nói chẳng sanh. Ta nói chẳng sanh chẳng diệt là tự căn nguyên nó vốn không sanh, nay cũng không diệt, cho nên chẳng giống với ngoại đạo. Ông nếu muốn biết tâm yếu, chỉ cần hết thảy mọi thiện ác đều đừng bận tâm suy nghĩ thì tự nhiên sẽ ngộ nhập tâm thể thanh tịnh, thường tịch trong suốt, diệu dụng vô kể.
Giản được chỉ dạy, tâm hoát nhiên đại ngộ, đảnh lễ từ biệt về triều, dâng biểu tâu lại lời Tổ dạy. Vua hạ chiếu kính tạ và cúng dường cà-sa cực quí ma nạp và 500 xấp lụa, một chiếc bát vàng.
Ngày 19 tháng 12, sắc đổi tên cũ Bửu Lâm là Trung Hưng Tự.
Đến năm thứ ba (niên hiệu Nghi Phụng), ngày 18 tháng 11, vua lại lệnh cho Thứ sử Thiều Châu trùng hưng trang trí lại ngôi chùa và ban biển hiệu Pháp Tuyền Tự. Nơi chùa cũ của Tổ ở Tân Châu đổi tên là Quốc Ân Tự.
Một hôm, Tổ báo cùng chúng:
- Các thiện tri thức, các ông hãy tự tịnh tâm, nghe ta nói pháp. Hết thảy các ông đây, tự tâm là Phật, chớ nên nghi ngờ. Bên ngoài chẳng có một vật nào có thể kiến lập được. Tất thảy đều là tự bản tâm sanh ra vạn giống pháp. Kinh nói: “Tâm sanh thì đủ thứ pháp sanh, tâm diệt thì mọi pháp diệt”. Nếu muốn thành tựu chủng trí thì cần phải đạt nhất tướng Tam-muội, nhất hạnh Tam-muội.
Nếu ở mọi chốn mà không trụ tướng, trong tướng ấy chẳng nẩy sanh lòng yêu ghét, cũng không giữ bỏ, không nghĩ đến lợi ích, thành hay hư hoại các sự, cứ an nhàn thanh tịnh, hư dung đạm bạc, thì đấy gọi là nhất tướng Tam-muội. Còn như ở mọi chỗ mọi nơi, đi đứng nằm ngồi, duy nhất một chân tâm, chẳng làm mất tánh thuần khiết, tạo thành một khối tịnh độ giữa trần thế thì gọi là nhất hạnh Tam-muội. Nếu người nào đủ hai thứ Tam-muội này thì khác gì đất có mầm giống, có công năng dung chứa và nuôi dưỡng lớn lên thành trái. Nhất tướng nhất hạnh cũng lại như vậy. Ta nay nói pháp cũng như khi mưa mùa thấm nhuần đất đai rộng lớn. Phật tánh các ông tỉ như hạt giống, gặp đất ẩm ướt tất mầm mộng phát sanh. Cứ theo ý chỉ ta dạy, nhất định sẽ được Bồ-đề. Theo lời ta mà thực hành, tất sẽ chứng diệu quả.
Đầu niên hiệu Tiên Thiên, Tổ báo cùng tứ chúng:
Ta lạm nhận y - pháp của Nhẫn đại sư, nay vì các ông mà nói pháp, nhưng không truyền lại y. Ấy cũng vì gốc tin các ông đã đủ, cứ nhất định chẳng nghi là đã đủ xác nhận sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của ta. Nghe ta đọc kệ:
Phiên âm:
Tâm địa hàm chư chủng
Phổ vũ tất giai sanh
Đốn ngộ hoa tình dĩ
Bồ-đề quả tự thành.
Tạm dịch:
Đất tâm dung các giống
Mưa khắp tất nẩy sanh
Đốn ngộ - hoa bừng nở
Bồ-đề quả tự thành.
Nói kệ xong, Tổ lại bảo:
- Pháp này không hai, tâm ấy cũng như vậy. Đạo ấy thanh tịnh cũng không có các tướng. Các ông chớ nên chấp quán tịnh và ngoan không cái tâm. Tâm vốn đã tịnh, không thể giữ - bỏ. Mọi người hãy gắng lên, tùy duyên mà đi tới !
Có ông tăng nêu kệ của Thiền sư Ngọa Luân rằng:
Phiên âm:
Ngọa Luân hữu kỹ lưỡng
Năng đoán bách tư tưởng
Đối cảnh tâm bất khởi
Bồ-đề nhật nhật trưởng.
Tạm dịch:
Ngọa Luân có biệt tài
Nghĩ suy, cắt đứt ngay
Gặp cảnh tâm không khởi
Bồ-đề lớn ngày ngày.
Tổ nghe vậy, nói:
Bài kệ này vẫn chưa đạt tâm địa, nếu theo đó mà hành thì chỉ thêm trói buộc.
Nhân đó, ngài đọc một bài kệ:
Phiêm âm:
Huệ Năng một kỹ lưỡng
Bất đoạn bách tư tưởng
Đối cảnh tâm tự khởi
Bồ-đề tác ma trưởng.
Tạm dịch:
Huệ Năng chẳng có tài
Chẳng đoạn trừ tư tưởng
Gặp cảnh tâm cứ sanh
Bồ-đề làm sao trưởng?
Tổ giảng pháp hóa độ chúng sanh qua 40 năm, đến ngày 6 tháng 7 năm ấy, ngài bảo đệ tử đến chùa Quốc Ân Tân Châu lập tháp Báo Ân, dặn tăng gấp đôi công suất làm việc.
Lại có một ông tăng xứ Thục, tên Phương Biện đến ra mắt Tổ, bạch: Con chuyên nặn tượng.
Tổ nghiêm mặt, bảo: Hãy nặn xem.
Phương Biện chẳng hiểu chỉ ý, bèn ra sức đắp chân tượng Tổ cao độ 7 tấc, trông giống như thật.
Tổ đến xem, bảo: Ông giỏi nặn tượng mà chưa giỏi tánh Phật.
Bèn ban tặng cho tấm y và đồ vật, Phương Biện tạ lễ lui về. Niên hiệu Tiên Thiên năm thứ II, ngày mùng 1 tháng 7, Tổ bảo cùng môn đồ: Ta muốn về Tân Châu, các ông mau chuẩn bị thuyền.
Lúc ấy, mọi người buồn bã quyến luyến cầu xin Tổ ở lại. Tổ nói: Chư Phật ra đời vẫn phải thị hiện vào Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lẽ thường là vậy. Hình hài này của ta tất cũng phải có chỗ quay về.
Chúng nói: Sư ra đi, xin mau mau trở lại.
Tổ nói: Lá rụng về cội, ngày trở lại không nói được.
Chúng lại hỏi: Pháp nhãn của thầy, truyền lại cho người nào?
Tổ nói: Có đạo thì được, vô tâm thì thông.
Lại hỏi: Sau này có nạn gì không?
Tổ nói: **Sau khi ta tịch diệt năm sáu năm, sẽ có người đến lấy đầu ta, nghe ta dặn dò:
Phiên âm:
Đầu thượng dưỡng thân
Khẩu lý tu xan
Ngộ Mãn chi nạn
Dương liễu vi quan.
Tạm dịch:
Trên đầu dưỡng thân
Trong miệng để ăn
Gặp nạn của Mãn
Dương liễu làm quan.
Đoạn nói:
Sau khi ta tịch diệt 70 năm sẽ có hai Bồ-tát từ phương Đông tới, một tại gia, một xuất gia. Cả hai cùng dựng lập pháp ta, làm hưng thạnh tông phái ta.
Tổ nói xong, đến chùa Quốc Ân ở Tân Châu, tắm rửa xong vào ngồi xếp bằng an nhiên thị tịch. Mùi hương tỏa khắp, dãy cầu vồng trắng quyện ngang đất. Tức nhằm ngày mùng 3 tháng 8 năm ấy.
Lúc ấy, người hai quận Thiều và Tân Châu đều định lập tháp, đạo tục không biết nên đặt bên nào. Quan Thứ sử hai quận bèn cùng nhau thắp hương khấn: “Khói hương chỉ chỗ nào tức là ý Tổ muốn về đấy”.
Lúc bấy giờ, khói lư hương xông lên bay thẳng hướng Tào Khê.
Ngày 13 tháng 11, mọi người cùng đưa Tổ đến nhập tháp tại nơi này. Ngài thọ 76 tuổi.
Bấy giờ, Thứ sử Thiều Châu là Vi Cứ soạn bi văn. Môn nhân nhớ chuyện đoán trước bị lấy đầu nên dùng miếng sắt lá quấn vải nhúng sơn quàng quanh cổ bảo hộ.
Trong tháp còn có tín y của Đạt Ma truyền lại. (Chú: Tấm y làm bằng vải Khuất Thuấn xứ Tây Vực, vải này do lụa Mộc Miên Hoa tâm dệt thành.
Cùng y quý Ma Nạp, bình bát vàng vua Trung Tông ban tứ, pho Chân Tượng do Phương Biện đắp và các đạo cụ. Lại cử chủ tháp và thị giả thủ hộ).
Khai Nguyên năm thứ mười, Nhâm Tuất. Ngày 3 tháng 8 nửa đêm bỗng có tiếng giũa sắt trong tháp, tăng chúng hoảng hốt trở dậy thì thấy một gã đàn ông mặc đồ tang từ tháp chạy ra, sau đó xem lại thì thấy cổ của Tổ có vết giũa trầy.
Đem chuyện trộm báo lên quan huyện lệnh Dương Khản, Thứ sử Liễu Vô Thiểm được báo, bèn ra lệnh tìm bắt. 5 ngày sau thì bắt được tên trộm tại thôn Thạch Giác, giải về Thiều Châu tra hỏi.
Y đáp: Họ Trương, tên Tịnh Mãn, người huyện Lương, Nhữ Châu, do nhận 20 ngàn tiền của Kim Đại Bi, tăng xứ Tân La (Triều Tiên) chùa Khai Nguyên, Hồng Châu, bảo đến lấy đầu Lục Tổ Đại sư mang về Hải Đông (Triều Tiên) cúng dường.
Quan huyện Liễu xem cung trạng, chưa vội gia hình, đích thân đến Tào Khê hỏi Lịnh Thao là cao đệ tử của Tổ: Phải xử trị như thế nào?
Thao nói: Theo quốc pháp thì bị tru di, nhưng đạo Phật từ bi, coi oán thân là bình đẳng, huống chi kẻ kia lại muốn trộm đầu để cúng dường, tội có thể tha thứ.
Thứ sử Liễu càng thêm khâm phục nói: Nay mới biết là nhà Phật quảng đại vô cùng.
Bèn xá tội cho Mãn. Năm đầu niên hiệu Thượng Nguyên, vua Tiên Tông sai sứ đến thỉnh y bát của Tổ đem về nội cung cúng dường.
Đến niên hiệu Vĩnh Thái năm đầu (công nguyên 765) ngày 5 tháng 5, Đại Tông mộng thấy Lục Tổ đến xin lại y bát.
7 hôm sau, vua lệnh cho Thứ sử Dương Giam rằng: Trẫm nằm mộng thấy Thiền sư yêu cầu mang y truyền pháp đưa trở về Tào Khê. Nay sai Trấn quốc Đại tướng quân Lưu Tông Cảnh mang trả lại.
Trẫm coi đó là quốc bảo, khanh hãy mang đến chùa theo pháp tắc đặt đúng chỗ, riêng truyền cho tăng chúng và người đích thân nối tiếp tông chỉ, phải hết sức gìn giữ, đừng để mất mát.
Sau đó, hoặc có bị người đến trộm, song chưa trốn đi xa thì bị bắt lại, như vậy đến 4 lần.
Vua Hiến Tông thụy tặng Tổ là Đại Giám Thiền Sư. Tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu.
Vào đầu thời hoàng triều Khai Bảo, quân triều đình bình định họ Lưu vùng Nam Hải, tàn binh làm bướng, miếu tháp Tổ cháy rụi song chân thân Tổ được các tăng coi tháp giữ gìn cẩn thận, chẳng tổn hại gì.
Sau đó có người lo tu chỉnh lại, nhưng công việc chưa thành. Đến khi Thái Tông hoàng đế lên ngôi, đặc biệt lưu tâm đến Thiền tông, tháp mới tăng phần tráng lệ.
Đại sư từ năm Đường Tiên Thiên thứ hai, nhằm năm Quí Sửu nhập diệt cho đến năm Cảnh Đức nguyên niên, nhằm năm Giáp Thìn, là 292 năm.
Những người đắc pháp, ngoại trừ nhóm Ấn Tông 30 người mỗi người đều hành hóa một nơi, coi như pháp tự chính thức, còn có nhiều người giấu tên ẩn tích, không thể kể xiết.
Nay trong truyền ký của các nhà, lược tập thuật 10 người gọi là bàng xuất.
Lục Tổ họ Lư, trước là người Phạm Dương, cha tên Hành Thao, trong niên hiệu Vũ Đức bị giáng quan về Tân Châu, Nam Hải 1 và định cư nơi đây. Ba tuổi cha mất, mẹ thủ chí nuôi con, gia cảnh nghèo túng, Sư kiếm củi qua ngày.
Một hôm gánh củi đến chợ, nghe khách tụng kinh Kim Cang đến đoạn “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, có chỗ cảm ngộ, bèn hỏi khách: “Đây là pháp gì? Người truyền là ai?” Khách bảo: “Đây là kinh Kim Cang, được nghe nơi Đại sư Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai”.
Tổ bèn thưa với mẹ ý tầm thầy học đạo. Nhờ khách giúp đỡ coi mẹ, rồi đi đến Thiều Châu. Gặp bậc cao sĩ Lưu Chí Lược trao đổi có chỗ hợp nên kết làm bạn. Lưu có người cô là ni cô Vô Tận Tạng thường tụng kinh Niết Bàn. Tổ nghe qua liền nói nghĩa kinh.
Ni liền cầm quyển kinh đến hỏi chữ.
Tổ bảo: Chữ thì không biết, xin hỏi về nghĩa.
Ni nói: Chữ còn không biết, sao có thể hiểu nghĩa?
Tổ bảo: Diệu lý của chư Phật chẳng liên quan đến văn tự.
Ni nghe lời này lấy làm lạ, bảo với các bậc trưởng lão trong hương thỉnh đến Bảo Lâm Cổ Tự. Trụ nơi đây chẳng bao lâu, một hôm Tổ suy nghĩ: Ta cầu đại pháp, há có thể dừng ở giữa đường.
Sáng hôm sau bèn đi đến huyện Lạc Xương thạch thất ở Tây Sơn (Tây Sơn nay là huyện Nhũ Nguyên) gặp thiền sư Trí Viễn. Trí Viễn khuyến khích nên đến Hoàng Mai tham vấn. Tổ bèn từ biệt thẳng đến Đông Sơn Hoàng Mai. Đó là vào khoảng Đường Hàm Hanh năm thứ hai (671).
Đại sư Hoằng Nhẫn một phen thấy biết là pháp khí. Về sau truyền y bát, bảo đi ẩn ở Hoài Tập và Tứ Hội.
Huệ Năng canh ba lãnh được y bát, thưa: Huệ Năng vốn là người miền Nam, không biết đường đi, làm sao ra được bến đò?
Ngũ Tổ bảo: Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi.
Ngũ Tổ liền đưa đến bến đò Cửu Giang. Khi lên thuyền, Ngũ Tổ bèn cầm chèo tự chèo.
Huệ Năng thưa: Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo.
Ngũ Tổ bảo: Phải là ta độ ông.
Huệ Năng thưa: Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tên tuy là một nhưng chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng, nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên Tự tánh tự độ.
Ngũ Tổ bảo: Như thế! Như thế! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành, ông đi ba năm, ta sẽ thệ thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm, Phật pháp sẽ gặp tai nạn.
Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương Nam, trong khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một vị tăng họ Trần, tên Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, hết lòng theo tìm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng.
Huệ Năng để y bát trên bàn thạch nói: Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh sao!
Huệ Năng liền ẩn trong lùm cỏ, Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới kêu rằng: Cư sĩ, cư sĩ! Tôi vì pháp mà đến chớ không phải vì y.
Huệ Năng bèn bước ra ngồi trên bàn thạch. Huệ Minh liền làm lễ thưa: Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.
Huệ Năng bảo: Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm, tôi vì ông nói.
Huệ Minh im lặng giây lâu.
Huệ Năng bảo: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?
Huệ Minh ngay câu nói đó liền đại ngộ. Lại hỏi: Ngoài mật ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng?
Huệ Năng bảo: Vì ông nói tức không phải mật vậy, ông nếu phản chiếu thì mật ở bên ông.
Huệ Minh thưa: Huệ Minh tuy ở Huỳnh Mai, thật chưa có tỉnh diện mục của chính mình, nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết. Nay cư sĩ tức là Thầy của Huệ Minh.
Huệ Năng bảo: Ông nếu như thế thì tôi cùng ông đồng thờ thầy Huỳnh Mai, khéo tự hộ trì.
Huệ Minh lại thưa: Huệ Minh từ nay về sau nhằm chỗ nào đi?
Huệ Năng bảo: Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở 2.
Huệ Minh liền lễ từ. Huệ Minh trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: Đi trên những đồi núi này trọn không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm.
Cả chúng đuổi theo đều cho là đúng. Huệ Minh về sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh chữ đầu của tên Thầy.
Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi mới ở nơi Tứ Hội tị nạn trong đám thợ săn.
Trải qua mười lăm năm, khi đó cùng những người thợ săn tùy nghi nói pháp. Những người thợ săn thường bảo giữ giềng lưới, khi Huệ Năng thấy những con vật mắc lưới đều thả. Mỗi khi đến bữa ăn, hái rau gởi luộc trong nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: Chỉ ăn rau ở bên thịt.
Một hôm, mới suy nghĩ: Thời hoằng pháp đã đến, không nên trọn trốn lánh.
Đường Nghi Phụng năm đầu (676), đến Nam Hải, gặp Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn tại chùa Pháp Tánh. Tổ ở ngoài hành lang, đêm tối gió thổi cột phướn, nghe hai vị tăng bàn nhau. Một vị nói phướn động, một vị nói gió động. Nghe lời đối đáp biết chưa khế lý, Tổ bảo: Có thể cho kẻ này luận bàn được chăng, gió phướn chẳng động, động là tâm vậy.
Ấn Tông nghe được lời này, kinh ngạc. Sáng hôm sau mời tổ vào thất, hỏi nghĩa việc gió và phướn. Tổ nói lại đầy đủ, Ấn Tông bất giác đứng dậy nói: Hành giả nhất định là người phi thường, Thầy của hành giả là ai?.
Tổ kể lại nhân do đắc pháp. Ấn Tông lễ xin làm đệ tử, xin thọ yếu chỉ thiền.
Ấn Tông bảo với bốn chúng: Ấn Tông là Tỳ-kheo phàm phu, nay gặp được nhục thân Bồ tát. Và chỉ chỗ Lư cư sĩ đang ngồi, bảo: Chính là đây vậy.
Nhân đây thỉnh đưa y bát được truyền ra để chiêm ngưỡng và lễ bái. Đến ngày rằm tháng giêng, hội các danh đức lại vì Huệ Năng thế phát.
Mùng tám tháng hai, nơi chùa Pháp Tánh, Luật sư Trí Quang truyền giới, tại giới đàn do Tam tạng Cầu-na Bạt-đà-la đời Lưu Tống (khoảng 435) bài trí. Tam Tạng có nói: Sau tại đạo tràng này có nhục thân Bồ tát thọ giới.
Lại nữa, vào cuối nhà Nam Lương, Tam tạng Chân Đế (Ba-la Mạt-đà) chính tay trồng hai cây bồ-đề cạnh đàn tràng, nói với chúng: “Một trăm hai mươi năm sau có bậc đại khai sĩ nơi dưới gốc cây này diễn nói pháp Vô thượng thừa, độ vô lượng chúng”.
Tổ thọ giới xong, dưới gốc cây bồ-đề này khai pháp môn Đông Sơn, hợp với duyên xưa.
Năm sau mùng tám tháng hai (677), Tổ bảo với chúng: Ta chẳng nguyện ở đất này, muốn trở về nơi quy ẩn năm xưa. Ấn Tông cùng tăng ni đạo tục hơn trăm ngàn người đưa Tổ về Bảo Lâm Tự (Tào Khê).
Đường Nghi Phụng năm thứ hai (677) Lục Tổ được thỉnh đến Bảo Lâm Tự tại Tào Khê, từ đây tông phong Tào Khê hưng thịnh.
Ấn Tông cùng tăng ni đạo tục hơn trăm ngàn người từ chùa Pháp Tánh đưa Tổ về Bảo Lâm Tự.
Thích sử Thiều Châu là Vi Cừ thỉnh Tổ đến chùa Đại Phạm chuyển diệu pháp luân cùng trao giới vô tướng tâm địa. Nơi Tào Khê, rưới mưa pháp, người học chẳng dưới ngàn người.
Niên hiệu Thần Long năm đầu (705 TL) vào ngày rằm tháng giêng, vua Trung Tông và Tắc Thiên ban chiếu rằng: “Trẫm thỉnh hai sư An và Tú vào trong cung cúng dường, mỗi khi rảnh việc thì nghiên cứu về nhất thừa, hai Sư đều nhường rằng: Phương Nam có Huệ Năng thiền sư được mật trao pháp y của Đại sư Hoằng Nhẫn, được truyền Phật tâm ấn, nên thỉnh người đến thưa hỏi. Nay sai Nội thị Tiết Giản mang chiếu nghinh thỉnh, mong Thầy từ niệm, chóng đến Kinh đô”.
Tổ dâng biểu từ bệnh, nguyện trọn đời ở nơi rừng núi.
Ngày mùng ba tháng chín năm ấy có chiếu tưởng dụ Sư rằng: “Thầy từ vì già bệnh, vì trẫm mà tu hành, làm phước điền cho đất nước. Thầy cũng như ngài Tịnh Danh giả bệnh nơi thành Tỳ-da để xiển dương Đại thừa, truyền tâm chư Phật, nói pháp bất nhị.
Tiết Giản truyền lại lời Thầy chỉ dạy tri kiến Như Lai, trẫm chứa được nhiều công đức lành, gieo được hạt giống lành đời trước mới gặp Thầy ra đời, đốn ngộ pháp thượng thừa, cảm ân đức Thầy, đầu đội không thôi, cùng dâng chiếc Ma Nạp ca-sa và bát thủy tinh, sắc cho Thứ sử Thiều Châu sửa sang lại chùa và ban hiệu chùa cũ Thầy ở là chùa Quốc Ân 3.”
Cuối đời Lục Tổ về nơi quê nhà, trụ tại Quốc Ân Tự vị trí tại trấn Tập Thành, huyện Tân Hưng, thành phố Vân Phù dưới chân núi Long Sơn, tỉnh Quảng Đông. Chùa kiến lập vào thời Đường Cao Tông, niên hiệu Hoằng Đạo năm đầu (683).
Đường Hiến Tông niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) ban thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu. □
[Trích Pháp Bảo Đàn Kinh - Phẩm Phó Chúc]
Vào niên hiệu Thái Cực năm Nhâm tý, Diên Hòa tháng bảy (712), Tổ sai đệ tử đến Tân Châu, chùa Quốc Ân dựng tháp và khiến thợ khởi công gấp, năm kế cuối mùa hạ lạc thành, ngày mùng một tháng bảy Tổ họp đồ chúng bảo rằng: Tôi đến tháng tám muốn lìa thế gian, các ông có nghi phải hỏi nhau sớm, tôi vì các ông phá nghi khiến các ông dứt mê, nếu tôi đi rồi, sau không có người dạy các ông.
Ngài Pháp Hải… nghe Tổ nói thảy đều rơi lệ, chỉ có Thần Hội thần tình bất động, cũng không có khóc.
Tổ bảo: Thần Hội tiểu sư lại được thiện bất thiện cùng là đồng, khen chê chẳng động, vui buồn chẳng sanh. Các người khác đều không được, các ông ở trong núi mấy năm, cứu kính tu đạo gì? Nay các ông buồn khóc là vì lo cho ai?
Nếu lo ta chẳng biết chỗ đi thì ta tự biết chỗ đi, nếu ta chẳng biết chỗ đi thì trọn không báo trước cho các ông, các ông buồn khóc bởi vì chẳng biết chỗ đi của ta, nếu biết chỗ đi của ta tức không nên buồn khóc.
Pháp tánh vốn không sanh diệt đi lại, các ông ngồi đây ta sẽ vì các ông nói một bài kệ gọi là Chân giả động tịnh kệ. Các ông tụng bài này cùng với ta ý đồng, y đây mà tu hành thì không mất tông chỉ.
Chúng tăng đều làm lễ, Tổ nói kệ rằng:
Tất cả không có chân
Chẳng do thấy nơi chân
Nếu thấy được cái chân
Thấy đó trọn không chân.
Nếu hay tự có chân
Lìa giả tức tâm chân
Tự tâm không lìa giả
Không chân chỗ nào chân.
Hữu tình tức biết động
Vô tình tức không động
Nếu tu hạnh bất động
Đồng vô tình bất động.
Nếu tìm chân bất động
Trên động có bất động
Bất động là bất động
Vô tình không Phật tánh.
Hay khéo phân biệt tướng
Đệ nhất nghĩa bất động
Chỉ khởi cái thấy này
Là dụng của Chân như.
Bảo những người học đạo
Gắng sức phải dụng tâm
Chớ đối pháp Đại thừa
Lại chấp trí sanh tử.
Nếu bàn luận tương ưng
Liền cùng bàn nghĩa Phật
Nếu thật không tương ưng
Chấp tay khiến hoan hỷ.
Tông này vốn không tranh
Tranh tức mất ý đạo
Chấp nghịch tranh pháp môn
Tự tánh vào sanh tử.
Khi ấy đồ chúng nghe Tổ nói kệ rồi thảy đều làm lễ, biết rõ ý Tổ, mỗi người nhiếp tâm, y theo pháp tu hành, lại không dám tranh cãi.
Biết Tổ không còn ở đời bao lâu, Thượng tọa Pháp Hải lại đảnh lễ hỏi rằng: Sau khi Hòa thượng nhập diệt, y pháp sẽ trao cho người nào?
Tổ bảo:
Tôi ở chùa Đại Phạm 1 nói pháp cho đến ngày nay, sao chép để lưu hành, gọi là Pháp Bảo Đàn Kinh, các ông gìn giữ, truyền trao cho nhau, độ các quần sanh, chỉ y nơi lời nói này, ấy gọi là chánh pháp, nay vì các ông nói pháp chớ chẳng trao y, bởi vì các ông tín căn đã thuần thục, quyết định không còn nghi ngờ, kham nhận được đại sự, nhưng cứ theo ý bài kệ “Phó thọ” của Sơ tổ Đạt-ma, y không nên truyền. Sơ tổ Đạt-ma nói kệ rằng:
Ta đến ở cõi này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.
Tổ lại bảo: Các thiện tri thức, các ông mỗi người nên tịnh tâm lắng nghe tôi nói pháp, nếu muốn thành tựu chủng trí phải đạt được Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội.
Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng kia, không sanh yêu ghét, cũng không thủ xả, chẳng nghĩ các việc lợi ích thành hoại v.v… an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, đây gọi là Nhất tướng tam-muội.
Nếu ở tất cả chỗ đi đứng nằm ngồi thuần một trực tâm, không động đạo tràng, chân thành Tịnh độ, đây gọi là Nhất hạnh tam-muội. Nếu người đủ hai tam-muội này như đất đã có chứa hạt giống, nuôi dưỡng lớn lên, thành thục được hạt kia, Nhất tướng Nhất hạnh cũng lại như thế.
Nay tôi nói pháp ví như khi mưa ướt khắp cả quả đất, Phật tánh của các ông ví như là hạt giống gặp được sự thấm ướt này thảy đều phát sanh, nương lời chỉ dạy của tôi, quyết định được Bồ-đề, y theo hạnh của tôi, quyết định chứng được diệu quả, hãy nghe tôi nói kệ:
Đất tâm chứa hạt giống
Mưa rưới thảy nảy mầm
Đốn ngộ hoa tình rồi
Quả Bồ-đề tự thành.
Tổ nói kệ rồi bảo: Pháp kia không hai, tâm kia cũng vậy, đạo kia thanh tịnh, cũng không các tướng, các ông dè dặt chớ quán tịnh và để tâm kia không, tâm này vốn tịnh, không nên thủ xả, mỗi người tự nỗ lực tùy duyên đi vui vẻ.
Khi ấy cả thảy chúng đều làm lễ thối lui.
Đến ngày mùng tám tháng bảy, Tổ chợt bảo đệ tử rằng: Tôi muốn trở về Tân Châu, các ông hãy chóng sửa sang thuyền chèo.
Đại chúng đều buồn bã, cố cầm Tổ ở lại. Tổ bảo: Chư Phật xuất hiện còn phải thị tịch Niết-bàn, có lại tất có đi, lý vẫn thường nhiên, hình hài của tôi đây trở về ắt có chỗ.
Chúng thưa: Thầy từ đây đi, bao giờ mới trở về?
Tổ bảo: Lá rụng về cội, trở lại không hẹn ngày.
Lại hỏi rằng: Chánh pháp nhãn tạng truyền trao cho người nào?
Tổ bảo: Người có đạo thì được, người không tâm thì thông.
Niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai (713), ngày mùng ba tháng tám năm Quý sửu (tháng mười hai năm ấy đổi là Khai Nguyên), Tổ ở tại chùa Quốc Ân 4 sau buổi ngọ trai, bảo các đồ chúng rằng: Các ông mỗi người cứ ngồi y chỗ cũ, tôi cùng các ông từ biệt.
Pháp Hải bạch rằng: Hòa thượng để lại giáo pháp gì khiến cho những người mê đời sau được thấy Phật tánh?
Tổ bảo:
Các ông lắng nghe, những người mê đời sau nếu biết chúng sanh tức là Phật tánh, nếu chẳng biết chúng sanh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông biết tự tâm chúng sanh, thấy tự tâm Phật tánh. Muốn cầu thấy Phật, chỉ biết chúng sanh, chỉ vì chúng sanh mê Phật, chẳng phải Phật mê chúng sanh. Tự tánh nếu ngộ chúng sanh là Phật, tự tánh nếu mê Phật là chúng sanh, tự tánh bình đẳng chúng sanh là Phật, tự tánh tà hiểm Phật là chúng sanh. Tâm các ông nếu hiểm khúc tức Phật ở trong chúng sanh, một niệm bình trực tức là chúng sanh thành Phật. Tâm tôi tự có Phật, tự Phật đó là chân Phật, nếu tự không có tâm Phật thì chỗ nào cầu được chân Phật? Các ông Tự tâm là Phật lại chớ hồ nghi, ngoài không một vật mà hay dựng lập đều là Bản tâm sanh ra muôn pháp, nên kinh nói tâm sanh các thứ pháp sanh, tâm diệt các thứ pháp diệt.
Nay tôi để bài kệ cùng các ông từ biệt gọi là Tự Tánh Chân Phật Kệ, người đời sau biết được ý kệ này, tự thấy bản tâm, tự thành Phật đạo.
Chân như Tự tánh là chân Phật
Tà kiến tam độc là Ma vương
Khi tà mê ma ở trong nhà
Khởi chánh kiến Phật ở trong nhà.
Trong tánh tà kiến tam độc sanh
Tức là Ma vương đến trong nhà
Chánh kiến tự trừ tâm tam độc
Ma biến thành Phật thật không giả.
Pháp thân báo thân và hóa thân
Ba thân xưa nay là một thân
Nếu nhằm trong tánh hay tự thấy
Tức là nhân Bồ-đề thành Phật.
Vốn từ hóa thân sanh tánh tịnh
Tánh tịnh thường ở trong hóa thân
Tánh khiến hóa thân hành chánh đạo
Về sau viên mãn thật không cùng.
Tánh dâm vốn là nhân tánh tịnh
Trừ dâm tức là thân tánh tịnh
Trong tánh mỗi tự lìa ngũ dục
Thấy tánh sát-na tức là chân.
Đời này nếu gặp pháp đốn giáo
Chợt ngộ Tự tánh thấy được Phật
Nếu muốn tu hành mong làm Phật
Không biết nơi nào nghĩ tìm chân.
Nếu hay trong tâm tự thấy chân
Có chân tức là nhân thành Phật
Chẳng thấy Tự tánh ngoài tìm Phật
Khởi tâm thảy là người đại si.
Pháp môn đốn giáo nay lưu truyền
Cứu độ người đời phải tự tu
Bảo ông người học đạo đời sau
Không khởi thấy này rất xa xôi.
Tổ nói kệ rồi bảo rằng: Các ông ở lại an vui, sau khi tôi diệt độ, chớ làm theo thế gian khóc lóc như mưa, nhận lễ vật điếu tang, thân mặc hiếu phục, chẳng phải là đệ tử của tôi cũng không phải là chánh pháp.
Chỉ biết tự bản tâm, thấy tự bản tánh, không động không tịnh, không sanh không diệt, không đi không lại, không phải không quấy, không trụ không vãng, e các ông trong tâm mê, không hiểu ý tôi, nay lại dặn dò các ông khiến các ông thấy tánh. Sau khi tôi diệt độ, y theo đây tu hành, như ngày tôi còn sống, nếu trái lời tôi dạy, giả sử tôi còn ở đời, cũng không có lợi ích gì.
Tổ lại nói kệ rằng:
Ngơ ngơ không tu thiện
Ngáo ngáo không làm ác
Lặng lẽ dứt thấy nghe
Thênh thang tâm không dính.
Tổ nói kệ rồi ngồi ngay thẳng đến canh ba, chợt bảo đệ tử rằng: “Tôi đi nhé!” rồi im lặng mà hóa. Khi ấy mùi hương lạ đầy cả thất, có một móng trắng vòng giáp đất, trong rừng cây cối đều biến thành màu trắng, cầm thú kêu vang bi thương.
Đến tháng mười một, quan liêu cùng môn nhân tăng tục ba quận Quảng, Thiều, Tân, đua nhau tới đón nhục thân của Tổ, không giải quyết được việc tranh giành mới thắp hương khấn đảo rằng: “Khói hương chỉ về chỗ nào là Tổ về chỗ ấy”.
Khi ấy khói hương bay thẳng về Tào Khê. Ngày mười ba tháng mười một dời thần khám và những y bát được truyền trở về.
Năm kế tháng bảy mới mở khám, đệ tử Phương Biện dùng đất trầm tô lên trên, đệ tử nhớ lại lời huyền ký sẽ bị lấy đầu của Tổ, mới lấy sắt lá bao quanh cổ để giữ cổ của Tổ rồi đưa vào trong tháp, chợt trong tháp có hào quang trắng hiện ra thẳng lên trên trời, ba ngày mới tan. Thiều Châu tâu lên vua và phụng sắc lập bia ghi đạo hạnh của Tổ.
Tổ sống bảy mươi sáu tuổi, hai mươi bốn tuổi được truyền y, năm ba mươi chín tuổi mới thế phát, nói pháp lợi sanh ba mươi bảy năm, đệ tử nối pháp bốn mươi ba người, người ngộ đạo siêu phàm không biết bao nhiêu mà tính. Tín y của tổ Đạt-ma truyền, áo ma-nạp cùng với bát báu của vua Trung Tông ban cho và tượng của Phương Biện đắp cùng với những đạo cụ của Tổ để tại đạo tràng Bảo Lâm, lưu truyền kinh Pháp Bảo Đàn để bày tông chỉ của Tổ, hưng long Tam bảo và lợi ích quần sanh.
[PBĐK - HT]
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
Nam Hải lúc xưa thuộc Nam Hải, Phiên Ngung, Thuận Đức. Khoảng năm 206 trước công nguyên, Triệu Đà tự lập Nam Việt Vương, đô ở Phiên Ngung. ↩ ↩2
-
Sau này Huệ Minh trụ ở núi Mông Sơn, Viên Châu. ↩
-
Chùa Đại Giám (Đại Phạm) tại Thiều Quan Chùa Đại Phạm kiến lập vào thời Nam Bắc triều, đến nay gần 1.500 năm. Đường Nghi Phụng năm thứ hai (677) Lục Tổ Huệ Năng đến đạo tràng Bảo Lâm (Nam Hoa Thiền Tự), thường được Thích sử Vi Cừ ở Thiều Châu thỉnh đến chùa Đại Phạm giảng kinh. Sau khi Lục Tổ viên tịch, Đường Hiến Tông ban thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư, người sau vì kỷ niệm Lục Tổ từng đến chùa giảng kinh nên đổi tên chùa là Đại Giám Tự. ↩
-
Phụ Giáo Biên ghi: Buổi đầu Huệ Năng bán củi nuôi mẹ. Khi đi tìm thầy học đạo, nhờ người lo cho mẹ. Đến lúc Sư trở về thì mẹ đã mất. Sư than thở không được toại ý đạo làm con. Đại sư Huệ Năng vì báo ân cha mẹ vào niên hiệu Hoằng Đạo năm đầu (683) nhà Đường kiến lập chùa tên Báo Ân Tự. Đường Trung Tông, niên hiệu Thần Long năm thứ hai (706) hạ chiếu đổi thành “Quốc Ân Tự”, ngày nay biển ngạch còn ghi “Sắc Tứ Quốc Ân Tự”. Quốc Ân Tự tựa lưng vào núi Long Sơn nên còn được gọi Long Sơn Tự. ↩