GIỚI THIỆU
Cư sĩ ở sâu trong rừng rú hoang dã, ăn cây cỏ, uống nước khe. Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo đời Bắc Tề, nghe Nhị Tổ thạnh hóa đạo pháp, bèn đưa thư thông hảo rằng:
Ảnh do hình khởi dậy, âm hưởng đuổi theo tiếng mà đến. Lộng ảnh né hình mà không biết hình là gốc của ảnh. La to để ngăn dừng tiếng, mà không biết la to là gốc của tiếng. Trừ phiền não để đến Niết-bàn chẳng khác nào bỏ hình mà tìm ảnh. Rời xa chúng sanh để cầu quả Phật cũng giống như nín khe mà tìm tiếng. Do đó mà thấy rằng mê ngộ một con đường thôi, còn kẻ ngu người trí không khác nhau. Không có tên nào có thể gọi tên, cho nên nếu nương theo danh thì phải trái liền sanh. Không có lý nào để làm lý. Nếu bằng vào lý thì tranh luận nổi lên vậy. Ảo hóa không thật, ai phải, ai trái. Hư vọng chẳng thật, có đâu không, có đâu có. Thế mới biết được cái vốn không thể được, mất cái không thể mất. Chưa kịp đến tham yết, tạm nêu mấy ý, mong được hồi đáp.
Đại sư Nhị Tổ bảo đem bút mực tới hồi đáp chỉ thị rằng:
Xem kỹ ý tứ gởi tới đều như thật, lý chân u lại chẳng khác, vốn mê lầm ngọc ma-ni là ngói gạch, bỗng nhiên tự biết ra đó là trân châu. Vô minh và trí tuệ vốn không khác nhau. Nên biết vạn pháp tức đều như. Thương thay cho đám chấp nhị kiến, nghĩ lời, huơ bút viết thư này. Quán thân cùng Phật chẳng sai khác, cần gì tìm vô dư của Phật.
Cư sĩ nâng thư của Tổ lên xem xong, bèn đích thân đến tham yết, mật thừa ấn ký.
Cư sĩ ở rừng U Thê, ăn trái cây uống nước suối. Thời Bắc Tề niên hiệu Thiên Bảo năm đầu (550), nghe Nhị Tổ giáo hóa hưng thịnh, bèn đưa thư thưa hỏi:
“Bóng do hình khởi, tiếng theo âm thanh đến. Đùa bóng 1 nhọc hình mà không biết hình là gốc của bóng, to tiếng lên để dừng âm vang mà không biết tiếng là gốc của âm vang.
Dẹp phiền não mà hướng bồ-đề giống như bỏ hình mà tìm bóng, lìa chúng sanh mà cầu quả Phật, dụ như không có tiếng mà tìm âm vang. Nên biết mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác.
Không tên mà đặt tên, nhân có tên này nên thị phi mới sanh ra, không có lý mà tạo lý, nhân lý kia nên tranh luận phát khởi.
Huyễn hóa chẳng phải chơn thật, ai phải ai trái. Hư vọng không thật, có gì Có, có gì Không? Nên biết, được không chỗ được, mất không chỗ mất.
Chưa đến yết kiến, xin trình bày ý này, mong được hồi đáp”.
Đại sư Nhị Tổ bảo đem bút đến, hồi đáp chỉ dạy rằng:
Bị quan lai ý giai như thực
Chân u chi lý cánh bất thù
Bản mê ma ni vị ngõa lịch
Khoát nhiên tự giác thị chân châu.
Vô minh trí tuệ đẳng vô dị
Đương tri vạn pháp tức giai như
Mẫn thử nhị kiến chi đồ bối
Thân từ thố bút tác tư thư.
Quan thân dữ phật bất sai biệt
Hà tu canh mịch bỉ vô dư
Xem lại ý chỉ như thật
Lý chơn thật sâu xa không khác
Vốn lầm ma-ni là ngói gạch
Chợt nhiên tự biết là chơn châu.
Vô minh trí tuệ đều không khác
Nên biết muôn pháp tức đều như
Xót thương bọn chúng nhị kiến kia
Buông lời, hạ bút viết thư này.
Xem mình cùng Phật không sai khác
Đâu cần lại tìm vô dư kia.
Cư Sĩ nhận kệ của Tổ, bèn đích thân và hầu cận kính lễ, thầm kế thừa tâm ấn.
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
Theo ghi chú trong bản văn: “Đùa bóng” nên sửa là “bỏ bóng”, e rằng lúc đó viết lầm. Bởi vì quyển 30, Đại sư Trấn Quốc đáp Hoàng thái tử hỏi tâm yếu rằng: “Nếu cầu chơn bỏ vọng, giống như bỏ bóng nhọc hình. Nếu thể hội vọng tức chơn, giống như chỗ râm mát không có bóng”. Đây dùng thuyết của Trang Tử, “nhọc hình” là “chạy mà trốn bóng” vậy. ↩